Câu 8: Đồng chí (anh, chị) hãy trình bày những hiểu biết về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và nghệ thuật quân sự của cha ông ta được kết tinh trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước?

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối, kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh song vô cùng oanh liệt của dân tộc ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.        
“Năm tháng trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trọng những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc"
(Trích Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV)
        Về bối cảnh lịch sử, sau khi ta giải phóng Buôn Mê Thuột (10/3/1975), Tây Nguyên (24/3/1975), Huế (26/3/1975), Đà Nẵng (29/3/1975); ngụy quân Sài Gòn bị mất toàn bộ Quân khu 1 và 2, một nửa quân ngụy đã bị tiêu diệt. Trong thế tan rã chiến lược hầu như không thể cứu vãn nổi, địch vẫn ra sức tổ chức lực lượng tích cực phòng ngự, lấy việc bảo vệ Sài Gòn làm mục đích chiến lược để có thể mặc cả với ta trong trường hợp dẫn đến thương lượng hòa bình.
        Chúng lần lượt tổ chức các tập đoàn phòng ngự từ xa, như tập đoàn phòng ngự Phan Rang, tập đoàn phòng ngự Xuân Lộc và sau đó là tập đoàn phòng ngự trực tiếp thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn, với tổng lực lượng gồm: 5 Sư đoàn bộ binh (22, 25, 5, 18 và Sư đoàn thủy quân lục chiến) cộng với 2 Lữ đoàn dù (1, 4); Lữ 3 kỵ binh thiết giáp, 4 Liên đoàn biệt động quân, bảo an và các đơn vị khác. Tổng cộng 240.000 quân, 625 xe tăng- thiết giáp, 400 khẩu pháo…
        Ngày16/4/1975, ta tiến công Phan Rang, đập tan tuyến phòng ngự của địch ở đây, bắt sống Trung tướng Tư lệnh mặt trận Nguyễn Vĩnh Nghi. Ngày 20/4/1975, trước sức tiến công của ta, Sư đoàn 18 ngụy tháo chạy. Xuân Lộc thất thủ. Các tuyến phòng ngự từ xa đã bị phá vỡ, địch co về phòng giữ trực tiếp thành phố Sài Gòn với 3 tuyến phòng ngự: Vòng ngoài (bán kính 25 – 30 km), vòng ven và nội đô thành phố.
Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh tài liệu


Đồng chí Phạm Hùng, Chính uỷ Chiến dịch 
Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

Xe tăng, bộ binh Quân đoàn 4 tiến công giải phóng Xuân Lộc tháng 4-1975. Ảnh tư liệu

        Giữa tháng 4/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam trước mùa mưa. Tất cả các lực lượng chiến lược được huy động cho chiến dịch này, gồm: Các quân đoàn 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 (tổng cộng 15 Sư đoàn) cùng với 5 Trung đoàn, Lữ đoàn bộ binh; 4 Trung, Lữ đoàn tăng- thiết giáp, 6 Trung đoàn đặc công và các đơn vị hỏa lực kỹ thuật. Tổng cộng: 280.000 quân, 400 xe tăng- thiết giáp, 420 khẩu pháo các loại…


Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tại căn cứ Tà Thiết-Lộc Ninh (tháng 4-1975). Ảnh tư liệu: TTXVN

        Sau các chiến dịch và đợt chiến đấu tạo thế, ngày 26/4/1975, quân ta đã bao vây và áp sát Sài Gòn trên 5 hướng:
        Hướng Bắc: Quân đoàn 1; Tây Bắc: Quân đoàn 3; Hướng Đông: Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2. Hướng Tây Nam: Đoàn 232 và lực lượng chủ lực Quân khu 8. Một số đơn vị đặc công và biệt động đã đứng chân ở vùng ven và nội đô.
        17 giờ ngày 26/4/1975, chiến dịch bắt đầu, trước tiên ở hướng Đông và Đông Nam. Ngày 26/4 - 28/4/1975, ta chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự chống cự của các sư đoàn địch, tiếp cận Sài Gòn. Địch bị rối loạn hoàn toàn về chiến lược. Từ chiều ngày 28/4/1975, Bộ Tổng Tham mưu quân ngụy mất hiệu lực chỉ huy. Các tướng chỉ huy quân ngụy bắt đầu tháo chạy ra nước ngoài.
        Ngày 29/4/1975, quân ta tổng tiến công. Các binh đoàn bộ đội hợp thành tiến công trong hành tiến, tiêu diệt các cánh quân địch ngăn chặn và phản kích, nhằm thẳng các mục tiêu đã được phân công. Trước thất bại không đường cứu vãn, sáng ngày 30/4/1975, Mỹ-nguỵ còn tìm mọi cách đề nghị ta thương lượng, ngừng bắn. Theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình trong nước, các động thái của quốc tế và của cuộc tiến công, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị ngay cho Bộ Tư lệnh chiến dịch “Tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến quân với khí thế mạnh nhất, giải phóng và chiếm toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân địch, giải tán chính quyền các cấp, đập tan triệt để mọi sự chống cự của địch”
        Chấp hành chỉ thị của cấp trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã ra lệnh cho các quân khu, quân đoàn và các đơn vị “Tiếp tục tiến công thật nhanh vào các mục tiêu đã định trong thành phố và các địa pương. Kêu gọi địch đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí. Bắt giữ và tập trung các sĩ quan từ cấp tá trở lên. Nơi nào địch chống cự, lập tức tiêu diệt ngay”.
        Sáng ngày 30/4/1975, năm cánh quân lớn của ta đã tiến đến các mục tiêu theo kế hoạch chiến dịch. Binh đoàn thọc sâu của các quân đoàn 1 và 3 đã chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy và Bộ Tư lệnh các binh chủng, sân bay Tân Sơn Nhất của địch. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc lập. Đúng11 giờ 30 phút, ta chiếm và cắm cờ trên Dinh Độc Lập; bắt toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn. Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Cờ mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc dinh 
Tổng thống ngụy Sài Gòn, 11h30 phút ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu




Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn đọc 
tuyên bố đầu hàng tại đài Phát thanh. Ảnh tư liệu

        Cùng với đòn tấn công quân sự, Nhân dân nội ngoại thành Sài Gòn đã nổi dậy giành chính quyền ở 107 điểm. Nắm thời cơ chiến lược, ngày 1/5/1975 ở đồng bằng sông Cửu Long, các Quân khu 8, Quân khu 9 đồng loạt tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại cuối cùng của ngụy quân Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn Miền Nam.
        Ngay sau khi giải phóng Đà Nẵng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương phải nhân thời cơ có lợi nhất giải phóng quần đảo Trường Sa-quần đảo chiến lược, vùng lãnh thổ xa nhất của Tổ quốc, nằm cách đất liền 500km.
        Trong khi các cánh quân trên đất liền của ta đang tiến công mãnh liệt vào thị xã Xuân Lộc, Tân An, thì Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ Tư lệnh quân khu V tổ chức tiến ra biển giải phóng các đảo do quân ngụy chiếm giữ. Ngày 14/4/1975 giải phóng đảo Song Tử Tây; ngày 25/4/1975, giải phóng đảo Sơn Ca. Từ ngày 27 đến ngày 29-4, ta lần lượt giải phóng các đảo Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa và các đảo khác khỏi sự chiếm đóng của quân ngụy Sài Gòn. Cùng trong thời gian tiến hành đợt hoạt động chiến đấu giải phóng Trường Sa, các lực lượng Hải quân ta đã phối hợp với các lực lượng chiến đấu khác giải phóng Cù lao Thu, Cù lao Ré, Hòn Tre... và một đảo lớn thuộc tỉnh Ninh Thuận; ngày 27-4, làm chủ Cam Ranh; ngày 29-4, làm chủ vùng biển Vũng Tàu. Ngày 30-4, khi quân và dân ta tiến hành Tổng công kích và nổi dậy ở nội đô Sài Gòn, thì Hải quân ta được triển khai trên biển để ngăn chặn và truy bắt bọn tàn quân địch chạy trốn. Cũng trong ngày 30-4, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương điện cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sài gòn chú trọng việc giải phóng và đưa anh em tù chính trị của ta ở Côn Đảo và Phú Quốc về đất liền. 
Bức ảnh lịch sử "Mẹ con ngày gặp mặt"

        Ngày 1-5, Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho lực lượng Hải quân tiến ra giải phóng Côn Đảo. Khi các lực lượng ta còn đang hành quân trên biển thì ở Côn Đảo, các chiến sĩ cách mạng của ta đã nổi dậy diệt địch, giải phóng đảo.
Bộ đội đặc công Hải quân trên đảo Trường Sa được giải phóng, ngày 29-4-1975. Ảnh tư liệu TTXVN

        Hải quân ta và các lực lượng chiến đấu khác đã kịp thời chuyển sang làm nhiệm vụ truy bắt bọn tàn quân địch chạy trốn và phối hợp với các chiến sĩ cách mạng xây dựng chính quyền trên đảo. ở Phú Quốc, khi nghe tin ngụy quân Sài Gòn đầu hàng cách mạng, nhân dân trong huyện đã kéo về thị trấn và hoàn toàn làm chủ huyện đảo trong ngày 30-4. ở các đảo khác thuộc vùng biển phía nam, phối hợp với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên đất liền, nắm bắt thời cơ bọn ngụy quyền Sài
        Gòn đầu hàng cách mạng, tổ chức Đảng các địa phương đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy tiến công, giành quyền làm chủ đảo trong các ngày 30-4 và 1-5. Tính đến ngày 1-5-1975, quân và dân ta đã giải phóng và làm chủ hầu hết các đảo và vùng biển phía nam của Tổ quốc.
Bộ đội hải quân trên đảo Trường Sa được giải phóng, ngày 29-4-1975. Ảnh tư liệu

Đặc công hải quân Đoàn 126 giải phóng đảo An Bang thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 28-4-1975. Ảnh: TTXVN

        Kết quả của Chiến dịch Hồ Chí Minh: giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn, đòn quyết định làm tan rã toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền. Ta tiêu diệt khoảng 15.700 quân địch, bắt sống 160.000 quân địch, thu giữ 276.000 khẩu súng, 518 khẩu pháo, 409 xe tăng – xe thiết giáp, 858 máy bay, 647 tàu – xuồng chiến đấu, 3.296 xe ô tô và toàn bộ kho tàng của địch.
Lược đồ Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh internet.

* Nghệ thuật quân sự của cha ông ta được kết tinh trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước.

        Nghệ thuật quân sự của cha ông ta là một di sản vô cùng quý báu, được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nó không chỉ thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam, mà còn là minh chứng cho trí tuệ sáng tạo, tinh thần độc lập tự chủ và nghệ thuật quân sự tài ba của các thế hệ cha ông ta. Những yếu tố làm nên nghệ thuật quân sự độc đáo của cha ông ta, đó là:
        Đầu tiên, tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc
        Đây là nét văn hóa quân sự truyền thống, đáng tự hào của dân tộc Việt Nam. Để giữ vững giang sơn bờ cõi – “non sông nghìn thuở vững âu vàng” các triều đại phong kiến Đại Việt đều nhất quán tư tưởng, quan điểm: “cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh của thế trận làng-nước, sức mạnh của toàn dân tạo nên sức mạnh vô địch để đánh bại kẻ thù xâm lược”.
        Đến thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng này không những được vận dụng sáng tạo, mà còn phát triển lên tầm cao mới, được thể hiện tập trung qua khái quát cô đọng của Bác: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công” Đường lối, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt sự nghiệp giải phóng dân tộc của Đảng ta là tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính. Hơn thế, Đảng ta còn phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đánh địch trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao.
Quang cảnh ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tại 
khu rừng Trần Hưng Đạo. Ảnh tư liệu

        Nhờ có đường lối, nghệ thuật quân sự đúng đắn, Đảng ta đã huy động và tổ chức toàn dân tham gia kháng chiến, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh đổ từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.
        Hai là, nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn
        Đây là nghệ thuật quân sự đặc trưng của Việt Nam, thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo trong cách đánh giặc. Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều phải biết dựa vào lòng yêu nước của nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, động viên sức mạnh vật chất, tinh thần và trí tuệ của toàn dân tộc đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt; đánh bằng mọi thứ vũ khí, mọi hình thức, mọi quy mô, ở mọi lúc mọi nơi; đồng thời, phải biết tổ chức thế trận toàn dân sao cho thích hợp nhằm phát huy sức mạnh vô địch toàn dân đánh giặc. Trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, dân tộc ta có kinh nghiệm tổ chức lực lượng rất độc đáo, sáng tạo. Bên cạnh lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, còn có đông đảo nhân dân tham gia chiến đấu với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Trên cơ sở đó, dân tộc ta đã tạo nên một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, khiến cho địch không chỉ phải đối diện với lực lượng vũ trang mà còn phải đối diện với lực lượng toàn dân. Bị sa vào thế trận đó các đạo quân xâm lược đông mà hóa ít, mạnh lúc đầu trở thành yếu về sau.
Bác Hồ với đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh tư liệu

        Để lấy nhỏ thắng lớn thường phải đánh lâu dài, biết giành thắng lợi từng bước. Thời gian là điều kiện cần thiết để tạo lực, tạo thế, tạo thời chuyển yếu thành mạnh, giành thắng lợi quyết định. Do tương quan lực lượng ban đầu quá chênh lệch, trong nhiều cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc, ông cha ta chủ trương đánh lâu dài để xây dựng thực lực, từng bước chuyển hóa lực lượng từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, từng bước tạo lực, lập thế, tranh thời mới đi đến thành công. Thậm chí trong một số cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong điều kiện có chính quyền, có quân đội, nhưng trước những kẻ thù xâm lược lớn mạnh, dân tộc ta cũng phải thực hiện đánh lâu dài, vừa xây dựng, vừa chiến đấu để từng bước chuyển hóa thế trận và lực lượng mới có thể giành được thắng lợi cuối cùng. Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều đưa ra chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh. Ta chủ trương phải thực hiện đánh lâu dài, đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, đánh bại từng chiến lược chiến tranh của địch. Trên cơ sở đó giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Nhưng đánh lâu dài không phải là vô thời hạn, mà phải tích cực tạo thế, tạo lực, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi càng sớm càng tốt. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, cũng có lúc trên cơ sở so sánh lực lượng không quá chênh lệch, ông cha ta thực hành tiến công địch ngay trên tuyến đầu Tổ quốc, nhanh chóng kết thúc chiến tranh (Ngô Quyền chống quân Nam Hán, Lê Hoàn chống quân Tống), hoặc khi địch đã tiến sâu vào nội địa nhưng chưa kịp triển khai lực lượng, bộc lộ sơ hở, ta điều quân từ xa đến, tiến công thần tốc, táo bạo, bất ngờ khiến quân địch không kịp trở tay, giành thắng lợi nhanh chóng (Quang Trung đại phá quân Thanh).
        Ba là, vận dụng linh hoạt “thế, lực, thời, mưu”, với nhiều cách đánh sáng tạo để giành thắng lợi với tổn thất ít nhất.
        Thực hiện lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh phải coi trọng kết hợp chặt chẽ “lực - thế - thời - mưu”. Trong quân sự, biết kết hợp chặt chẽ các yếu tố lực, thế, thời, mưu sẽ tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn. Do phải lấy ít địch nhiều, trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giải phóng, nghệ thuật dụng binh của dân tộc ta luôn quán triệt nguyên tắc dùng lực phải dựa vào thế có lợi để đạt hiệu quả cao, để biến lực nhỏ hóa lớn, yếu hóa mạnh. Bởi ở thế có lợi thì lực dù nhỏ cũng hóa thành mạnh và ngược lại ở thế bất lợi thì lực mạnh cũng hóa thành yếu; đồng thời phải đặt thế, lực vào đúng thời cơ có lợi nhất để “sức dùng một nửa mà công được gấp đôi”.
        Nguyễn Trãi đã viết: “Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời, thế mà thôi. Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy”. Đặc biệt, phải biết dùng mưu, bởi có mưu mới vận dụng và phát huy được thế và thời. Muốn có mưu sâu, kế hiểm phải đào sâu suy nghĩ, biết tổng kết, rút kinh nghiệm từ thực tiễn, biết triệt để khai thác các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để đánh địch. Các nhà quân sự đã đúc kết: “Trải nhiều biến cố thì mưu kế sâu, tính việc xa thì thành công lạ” (Nguyễn Trãi); “Nếu sự suy tính của ta mà không hơn người thì dù quân có nhiều cũng không ích gì cho sự thắng vậy” (Trần Quốc Tuấn: Binh thư yếu lược). Kết hợp chặt chẽ “lực - thế - thời - mưu” là quy luật giành chiến thắng của dân tộc ta. Lấy ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn, đồng thời biết tập trung lực lượng khi cần thiết, luôn đánh địch trên thế mạnh. Lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn là tư tưởng chỉ đạo chiến lược xuyên suốt của ông cha ta, nhưng khi có điều kiện, nhất là sau khi tạo được thế và lực có lợi, phải biết tập trung binh lực nhiều hơn địch để tiêu diệt lớn, đánh bại ý chí xâm lược của địch. Tập trung binh lực ngang hoặc nhiều hơn địch, còn phải biết tạo thành thế mạnh ở những điểm quyết định, nhất là phải kết hợp nghi binh, lừa địch, làm chúng bất ngờ, không phòng bị, sẽ tạo hiệu quả lớn. Nguyễn Trãi nhấn mạnh, tạo được tình huống như thế, “binh đánh vào đâu như lấy đá gieo vào trứng”, “phàm lấy sức nặng nghìn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát”. Thời hiện đại, các chiến dịch Biên giới, Điện Biên Phủ; các chiến dịch trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh là những thành công điển hình về cách tập trung binh lực, tạo ưu thế mạnh hơn địch trong những thời điểm quan trọng, trong những trận then chốt, trận quyết chiến chiến lược.
        Bốn là, tư tưởng tích cực chủ động tiến công để kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi nhất Ông cha ta luôn nắm vững tư tưởng tiến công, coi đó như một vấn đề có tính quy luật giành thắng lợi trong suốt quá trình thực hành chiến tranh giữ nước. Tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong đánh giá đúng kẻ thù, chủ động đề ra kế sách đánh, phòng, khẩn trương chuẩn bị lực lượng kháng chiến, tìm mọi biện pháp làm cho địch suy yếu, tạo ra thế và thời cơ có lợi để tiến hành phản công, tiến công địch. Thời nhà Lý, do theo dõi nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của nhà Tống, dân tộc ta bước vào cuộc kháng chiến với tinh thần kiên quyết và chủ động nên đã giành thắng lợi to lớn. Gần cuối thế kỷ XI (1075-1077), Vua Tống Thần Tông ra lệnh chuẩn bị lực lượng đánh nước ta, nhằm giành thắng lợi quân sự ở Đại Việt và tạo thế uy hiếp nước Liêu, nước Hạ. Trước nguy cơ đó, Lý Thường Kiệt nhận thấy không thể bị động đối phó khi quân giặc tiến công sang, mà phải “tiên phát chế nhân” đẩy kẻ thù vào thế bị động. Ông nói: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của chúng”. Thực hiện chủ trương đó, Lý Thường Kiệt đã đưa quân tiêu diệt những căn cứ xuất phát tiến công của địch ở Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu, rồi chủ động rút quân về phòng thủ đất nước. Quân Tống kéo quân sang, nhà Lý đã tăng cường củng cố quốc phòng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, chủ động đánh bại kẻ thù ở phía Nam, phá tan âm mưu liên kết của nhà Tống với Chiêm Thành. Mặt khác, tận dụng thế “thiên hiểm” của địa hình, xây dựng tuyến phòng thủ sông Như Nguyệt để chặn giặc, đồng thời triển khai lực lượng, bố trí thế trận chống giặc ngoại xâm khẩn trương chuẩn bị kháng chiến thực hiện trận quyết chiến chiến lược, chủ động chặn và đánh địch từ xa để bảo vệ Thăng Long. Do tích cực chuẩn bị mọi mặt, tháng 3- 1077, với trận phản công trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, quân dân Đại Việt đã quét sạch quân xâm lược Tống ra khỏi biên cương của Tổ quốc.
        Ở thế kỷ thứ XIII, các quốc gia châu Âu, châu Á run sợ trước sức mạnh của giặc Nguyên Mông, nhưng cả ba lần tiến quân xâm lược Đại Việt (1258, 1285, 1288) họ đều bại trận trước quân đội nhà Trần. Có được điều kỳ diệu đó chính là nhờ vào tinh thần “cả nước chung sức, trăm họ là binh”, thực hiện toàn dân đánh giặc, mà trong đó tư tưởng tích cực chủ động tiến công địch được nhà Trần quán triệt sâu sắc trong suốt các cuộc kháng chiến.Trước một đối tượng tác chiến là giặc Nguyên-Mông có sức mạnh như nước, như lửa, cha ông ta đã kịp thời thay đổi phương thức tác chiến, tránh quyết chiến với địch khi chúng còn rất mạnh, chủ động rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng và tạo thế, thời cơ để phản công. Rút lui chiến lược, tạm nhường Thăng Long cho giặc trong một thời gian nhất định nhằm bảo toàn lực lượng - đó là nét độc đáo trong nghệ thuật tác chiến, chứ không phải là tư tưởng rút lui. Quân địch tạm chiếm được Thăng Long nhưng không chiếm được “Thủ đô” của kháng chiến, vì đó chỉ còn “thành không, nhà trống”. Trong khi đó, quân đội nhà Trần và nhân dân cả nước đã tích cực tác chiến nhỏ lẻ, tiêu hao nhiều lực lượng địch, làm cho chúng rơi vào thế “tiến thoái, lưỡng nan”, tạo ra thời cơ tốt nhất để phản công chiến lược quét sạch quân thù ra khỏi đất nước (lần thứ nhất chỉ sau 9 ngày tính từ khi giặc Nguyên vào Thăng Long, lần thứ hai sau 5 tháng, lần thứ ba sau 3 tháng).
        Thế kỷ thứ XVIII, tư tưởng chủ động tiến công địch để giải phóng Thăng Long được Nguyễn Huệ nâng lên tầm cao mới. Nguyễn Huệ thực hiện tư tưởng táo bạo, thần tốc, bất ngờ và mãnh liệt, giải quyết cuộc chiến nhanh gọn trong một trận quyết chiến. Theo đó, ông đã chủ động tiến công địch khi chúng còn rất mạnh (29 vạn quân Thanh và quân bán nước Lê Chiêu Thống) nhưng lại rất chủ quan, kiêu ngạo, thiếu phòng bị (quân Thanh và bè lũ tay sai bán nước đang chuẩn bị đón Tết Kỷ Dậu (1789)…
Lịch sử gò Đống Đa. Ảnh sưu tầm

        Đến thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng chủ động, tích cực tiến công của ông cha ta trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc trước kia được vận dụng linh hoạt, sáng tạo. Theo Người, chỉ có tiến công mới giành được thế chủ động, giành được thế chủ động mới phát triển được thế tiến công. Đồng thời Người cũng chỉ rõ, muốn tiến công phải chuẩn bị tốt về mọi mặt. “Chuẩn bị càng đầy đủ, thật đầy đủ, thì thời giờ tổng phản công càng mau chóng”. Và thực tế cho thấy, sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ về thực lực, nhất là sự ra đời của các quân đoàn chủ lực vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến và được tung vào trận quyết chiến chiến lược, với tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa”, “Táo bạo, táo bạo, hơn nữa” đã thể hiện rõ nhận thức sâu sắc và vận dụng tài tình của Đảng ta về tư tưởng tiến công trong nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh vào thực tiễn sự nghiệp giải phóng dân tộc, làm nên thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân 1975.

        Năm là, Tư tưởng “mưu phạt tâm công,” “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”
        Đây cũng là nét tiêu biểu nhất thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa giữ nước Việt Nam. Xuất phát từ đạo lý “thương người như thể thương thân”, “tương thân, tương ái,” trong các cuộc chiến tranh nói chung, các trận đánh nói riêng, nghệ thuật quân sự Việt Nam vừa thể hiện quyết tâm giành thắng lợi, vừa cố gắng hạn chế thấp nhất tổn thất cho cả hai bên. Và khi thắng lợi luôn ứng xử mang đậm tính nhân văn, bác ái giữa con người với con người nhằm xóa bỏ thù hận, mau chóng nối lại hòa hiếu bang giao giữa hai quốc gia, dân tộc.

        Đây là nét đẹp truyền thống, bản sắc văn hóa quân sự của dân tộc, được các thế hệ duy trì thực hiện và phát triển. Lịch sử đã chứng kiến những hành động cao cả của dân tộc Việt Nam đối với kẻ xâm lược, như: vua Trần đảm bảo an toàn cho quân Nguyên; Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi cung cấp lương thảo, phương tiện cho quân Minh…Tư tưởng đó tiếp tục được vận dụng sáng tạo ở thời đại Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng mà rõ nhất là công tác địch vận. Công tác này được thực hiện hết sức hiệu quả, có tác dụng như một “vũ khí” sắc bén, một “sức mạnh mềm” không những kêu gọi được nhiều người lầm đường, lạc lối trở về với dân tộc, với chính nghĩa, chống lại quân xâm lược mà còn giúp họ thấy rõ tính chất phi nghĩa của kẻ xâm lược.
Tù binh Pháp sau Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Ảnh tư liệu

        Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta cũng thực hiện một loạt chính sách tù, hàng binh, “nghinh tiễn” quân Pháp, quân Mỹ cuốn cờ về nước. Bằng những hành động trên, dân tộc ta đã thể hiện nguyện vọng cháy bỏng: hòa bình, hữu nghị và ổn định với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, nhất là đối với các nước láng giềng.
        Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích
        Đây là một trong những nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chiến tranh chính quy là hình thức chiến tranh chủ yếu, nhưng chiến tranh du kích cũng đóng vai trò quan trọng, góp phần tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện cho chiến tranh chính quy phát triển. Trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, chiến tranh du kích phát triển đến trình độ cao, trở thành chiến tranh nhân dân địa phương, có tác dụng tiêu hao, tiêu diệt rộng rãi một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch; ghìm chặt địch trên các địa bàn chiến lược, buộc chúng phải phân tán binh lực chống đỡ, bộc lộ sơ hở, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực đẩy mạnh hoạt động.
        Cuối cùng, Tinh thần yêu nước và ý chí quyết chiến, quyết thắng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh. Cha ông ta đã biết khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của toàn dân, biến nó thành sức mạnh to lớn để đánh bại mọi kẻ thù.

Phi công Mỹ bị bắt sống bên xác máy bay trong Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. (Ảnh: TTXVN)

        Những bài học kinh nghiệm và nghệ thuật quân sự được kết tinh từ lịch sử đấu tranh của cha ông ta vẫn còn nguyên giá trị và được vận dụng, phát huy trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước hiện nay, trong đó, tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và quốc phòng, giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.