Năm 1954, sau Hiệp định Genève, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền Bắc - Nam. Miền Nam nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa; Chính quyền Sài Gòn đã thực hiện chính sách đàn áp khốc liệt, tiến hành các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, thẳng tay truy lùng và tiêu diệt những người kháng chiến cũ, gây tổn thất lớn cho phong trào cách mạng.
“Theo quy định của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được Ban Chấp hành Trung ương cử ra và ủy nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác đảng ở miền Nam, Trung ương Cục đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo. Trung ương Cục có một Bí thư, một hoặc hai Phó Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương chỉ định và Ban Thường vụ do Hội nghị Trung ương Cục bầu cử. Ngoài ra, tùy theo tình hình và yêu cầu công tác sẽ tổ chức cơ quan giúp việc”.
1. Đồng chí Lê Duẩn (1951-1954)
Đồng chí Lê Duẩn (1907 - 1986) tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907
ở làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xuất thân từ
một gia đình lao động, có truyền thống yêu nước, đồng chí sớm giác
ngộ cách mạng, hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi theo con
đường cách mạng vô sản. Đồng chí Lê Duẩn tham gia
phong trào yêu nước từ năm 1926, tham gia và
hoạt động trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928 và đến năm 1930 trở
Đồng chí Lê Duẩn (1907-1986)
Năm 1931, khi đang là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm tù và bị giam giữ ở các nhà lao Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Tại các nhà tù, đồng chí cùng nhiều đảng viên cộng sản đã lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù và tổ chức học tập, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin, giác ngộ lý tưởng cách mạng cho anh em trong lao tù. Năm 1939, đồng chí Lê Duẩn được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng và đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư của Đảng chủ trì Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương (11/1939), chuẩn bị những điều kiện cần thiết tiến tới giành chính quyền về tay nhân dân. Năm 1940, đồng chí bị địch bắt ở Sài Gòn, kết án 10 năm tù và đày đi Côn Đảo lần thứ hai. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất liền và tham gia cuộc kháng chiến Nam Bộ.
Từ năm 1946, đồng chí được ra Hà Nội làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuối năm đó, đồng chí được Bác Hồ và Trung ương Đảng cử vào lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, đồng chí được bầu vào BCH Trung ương và Bộ Chính trị. Từ năm 1946-1954, với cương vị là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.
Từ năm 1954 - 1957, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương phân công ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III, đồng chí tiếp tục được bầu vào BCH Trung ương, Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư Thứ nhất.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, cùng với Bộ Chính trị và BCHTW Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giữ vững quyết tâm chiến đấu, biến đau thương thành hành động cách mạng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thực hiện xuất sắc Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.
Đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), lần thứ V (1982) của Đảng và nhiều Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với BCHTW từng bước xây dựng một hệ thống quan điểm về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và đã lãnh đạo thực hiện đạt được những thành tựu quan trọng, đó là: việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của CNXH; là sự đảm bảo vững chắc về chính trị và an ninh quốc phòng của Tổ quốc; là những thành tựu về văn hóa, đạo đức, cùng quan hệ tốt đẹp giữa người với người do chế độ xã hội chủ nghĩa đem lại.
2. Đồng chí Nguyễn Văn Linh (1961-1964)
Đồng chí Nguyễn
Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày
1/7/1915 trong 1 gia đình công chức tại xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên).
Từ năm 1929, đồng chí đã tham gia Học sinh đoàn tổ chức của Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên lãnh đạo. Ngày 1-5-1930, lúc mới 15 tuổi, đồng chí Nguyễn Văn Linh
được tổ chức Học sinh Đoàn của Hội Việt Nam
cách mạng thanh
niên phái đi rải truyền đơn.
Tháng 9-1936, đồng chí Nguyễn Văn Cúc (tức Nguyễn Văn Linh) mới ở Côn Đảo ra, được Trung ương cử về Hải
Phòng nắm tình hình, tham gia xây dựng tổ chức Đảng và phong trào cách mạng. Từ
đó cho đến đầu năm 1937, hệ thống tổ chức cơ sở Đảng và cơ sở cách mạng tiếp
tục được củng cố. Đồng chí đã xây dựng cơ sở đảng, thành lập nhiều chi bộ và
Thành ủy lâm thời Hải Phòng.
Khoảng cuối năm 1938, đầu năm 1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Trung
ương điều động đồng chí Nguyễn Văn Linh vào Sài Gòn hoạt động và tham gia Thành ủy Sài Gòn. Khi ấy đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đang làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn, đồng chí Nguyễn Văn Linh
vào làm Phó bí thư Thành ủy.
Cuối năm 1939, được phân công tham gia lập lại Xứ ủy Trung Kỳ. Đầu năm
1941, đồng chí Nguyễn Văn Linh bị thực dân Pháp bắt ở Vinh, chúng đưa đồng chí
về Sài Gòn xử án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Năm 1945, Cách mạng
Tháng Tám thành công, đồng chí được đón về Nam Bộ hoạt động ở miền Tây.
Hội nghị Xứ ủy (mở rộng) tháng 11-1946, họp tại kinh Năm Ngàn trong
chiến khu Đồng Tháp Mười. Xứ ủy lâm thời Nam Bộ gồm các đồng chí: Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm, Nguyễn
Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh),
Trần Văn Trà, Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng
Dư Khương, Nguyễn Văn Tiếp; do đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư. Hội nghị ra Nghị quyết củng cố các Liên Tỉnh ủy miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Đồng chí
Nguyễn Văn Cúc được phân công về phụ trách thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn,
trực tiếp lãnh đạo kháng chiến với các chức vụ Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn - Gia Định vào giữa năm
1947.
Tháng 12-1947, đồng chí Nguyễn Văn Cúc được bầu vào Xứ ủy Nam Bộ, do
đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư Xứ ủy. Từ năm 1949, đồng chí tham gia Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ. Sau khi đồng chí Lê Duẩn ra Bắc (cuối tháng 4 - đầu
tháng 5-1957), đồng chí Phạm Hữu Lầu thay làm Quyền Bí thư Xứ ủy. Cuối năm
1957, đồng chí Nguyễn Văn Linh về làm Quyền Bí thư Xứ ủy đến năm 1960.
Đồng chí Nguyễn
Văn Linh tại Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam ngày Mồng 5 Tết
Ngày 27-3-1960, để chuẩn bị cho Hội nghị thành lập Trung ương Cục miền
Nam, Trung ương Đảng quyết định nhân sự của Trung ương Cục miền Nam gồm: Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm Bí thư, Phan Văn Đáng làm Phó bí thư, Võ Chí Công (Toàn), Phó bí thư. Tháng 9-1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ III, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
Ban quân sự Miền được thành lập (1961) để chỉ huy các lực lượng vũ trang
miền Nam. Đến tháng 10-1963, Ban quân sự Miền được thay bằng Bộ Chỉ huy Miền, do Trung tướng Trần Văn Trà làm Tư lệnh. Quân ủy Miền do Bí thư Trung
ương Cục miền Nam Nguyễn Văn Linh làm Bí thư.
Ngày 4-11-1967, tại Hội nghị toàn thể Trung ương Cục miền Nam theo
Quyết nghị của Bộ Chính trị về chuẩn bị Tổng công kích, tổng khởi nghĩa và củng cố các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy ở
chiến trường B2, đồng chí Phạm Hùng được giao nhiệm vụ Bí thư Trung ương Cục,
Bí thư Quân ủy Miền (thay Đại tướng Nguyễn Chí
Thanh từ trần tại Hà Nội tháng 6-1967).
Các Phó bí thư Trung ương Cục gồm có đồng chí: Nguyễn Văn
Linh, Phan Văn Đáng, Hoàng Văn Thái; Bộ Chỉ huy Quân ủy Miền do đồng chí Phạm
Hùng làm Bí thư; Phó bí thư là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thái.
Ngày 1-8-1969, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó
bí thư Trung ương Cục miền Nam, vừa từ chiến trường ra báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương về các “chiến dịch bình định cấp tốc” mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang xúc tiến trên
toàn chiến trường miền Nam. Dù đang ốm mệt, trước lúc đi xa, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Linh rằng: “Bất cứ trong tình huống
nào cũng phải bám chắc lấy dân, dựa vào dân
để mà tồn tại. Đó là cái chìa khóa của mọi thắng lợi”.
Sau Hội nghị Bình Giã V (tháng
1-1972), đến tháng
4-1972, tổ chức bộ máy của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định được
củng cố và bổ sung thêm một số Thành ủy viên và do đồng chí Nguyễn Văn Linh -
Phó bí thư Trung ương Cục trực tiếp
phụ trách làm Bí thư (đến tháng 10-1972), Phó bí thư Thành ủy là đồng chí Mai Chí
Thọ. Trên cương vị Bí thư và
Phó bí thư Trung ương Cục, đồng chí
Nguyễn Văn Linh đã cùng Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo quân và dân miền Nam
làm cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ, cứu nước từ những năm tháng đen tối
đến ngày toàn thắng trong mùa xuân lịch sử năm 1975.
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng và Tổ quốc Việt Nam được
thống nhất (1975), đồng chí Nguyễn Văn Linh được phân công trở lại làm Bí thư
Thành ủy THÀNH PHỐ Hồ Chí Minh Tháng 12-1976, tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của
Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương
bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư, được phân công giữ các chức vụ: Trưởng ban
Cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp
tư doanh của Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch
Tổng công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Sau đó, được phân công theo dõi thực hiện
Nghị quyết của Đảng và Chính phủ ở các tỉnh miền Nam. Tháng 12-1981, đồng chí Nguyễn
Văn Linh lại được Trung ương quyết định vào làm Bí thư
Thành ủy THÀNH PHỐ Hồ Chí Minh. Tháng 3-1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung
ương Đảng. Tháng 6-1985,
tại Hội nghị Trung ương 8, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị.
Tháng 6-1986,
đồng chí Nguyễn
Văn Linh được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, và được phân công
Thường trực Ban Bí thư. Tháng 12-1986, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban
Chấp hành Trung ương và được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng… Do có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
tộc ta, đồng chí được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy
hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
3. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh (1964-1967)
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914 -
1967) tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914, tại thôn Niêm Phò,
xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tham gia cách mạng từ năm
1934 và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937. Trong cuộc đời cách mạng của mình ông đã trải qua nhiều
cương vị lãnh đạo quan trọng như: Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Khu
ủy khu IV Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Phân Khu ủy Bình - Trị - Thiên; Bí thư Liên
khu ủy IV, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam... Tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ II (1951), ông được bầu vào Ban Chấp
hành Trung ương và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Nguyễn
Chí Thanh tiếp tục được bầu
vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị. Năm 1961, ông được giao nhiệm vụ Phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Từ năm 1965 đến năm 1967, ông được
phân công vào miền Nam để giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính
ủy Quân Giải phóng miền Nam…
(1914-1967)
Khi được cử vào chiến trường miền Nam với cương vị là Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy các lực lượng vũ trang
Quân Giải phóng miền Nam, Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra chiến thuật đánh áp sát
của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Kết
quả của chiến thuật này là những chiến thắng liên tiếp: Bình Giã, Ba Gia, Đồng
Xoài… Từ thực tiễn chiến trường miền Nam, Đại tướng
Nguyễn Chí Thanh
đã tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thành các bài báo gửi ra miền Bắc với các bút danh: Trường Sơn, Người quan sát,
S.K.Z… Các bài viết của ông không
chỉ phân tích sâu sắc tình hình, cục diện chiến
trường miền Nam với tư cách của một người đang lăn lộn thực tế ở chiến trường
mà còn thể hiện tư duy
của một nhà chiến lược tài ba. Những
chiến thuật mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vạch ra đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
thực hiện đầy hiệu quả, mang lại nhiều chiến thắng trên chiến trường, làm thay
đổi tương quan lực lượng và diễn biến trên chiến trường miền Nam, giúp Quân
giải phóng thu được nhiều thắng lợi.
Vào giữa năm 1967 Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường ra Hà Nội
để báo cáo tình hình với Bác Hồ và Bộ
Chính trị, đồng thời báo cáo việc
chuẩn bị kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 để tạo bước ngoặt
quyết định. Nhưng ông đã không kịp quay lại chiến trường nữa khi không may qua
đời do một cơn đau tim vào ngày 6.7.1967, lúc mới 53 tuổi. Ông là một nhà lãnh
đạo lỗi lạc của Đảng, đồng thời là một thiên tài quân sự.
4. Đồng chí Phạm Hùng (1967-1975)
Đồng chí Phạm Hùng tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11-6-1912,
trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước cách mạng tại ấp Long
Thiềng, làng Long Hồ, tổng Long Bình, huyện Vĩnh Bình, tỉnh Vĩnh Long, nay
thuộc ấp Long Thuận A, xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng
từ rất sớm, khi còn là học sinh. Năm 1930, Đồng chí được kết nạp vào Đảng
Cộng sản Đông dương, làm Bí thư Chi bộ trường
học và hoạt động qua các cấp chi ủy xã, huyện ủy, tỉnh ủy Mỹ Tho. Tháng
6/1931, Đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 3 năm tù, 3 năm quản thúc.
Trong lao tù, Đồng chí tiếp tục tổ chức cho tù nhân
đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến.
Ngày 20/9/1932, thực dân Pháp mở
phiên tòa đại hình tại tỉnh Mỹ Tho, kết án tử hình Đồng chí và đưa về giam ở xà
lim án chém Khám Lớn Sài Gòn. Trước cuộc đấu tranh
mãnh liệt của nhân dân ta
và nhân dân Pháp, Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế cộng sản, thực dân Pháp buộc phải giảm án tử hình cho một số chiến
sỹ cộng sản ở Việt Nam, Đồng chí Phạm Hùng được giảm xuống án khổ sai chung
thân và đày đi Côn Đảo từ ngày 17/1/1934.
Trong năm 1934, Đồng chí được bổ sung vào chi ủy nhà tù Côn Đảo sau đó
được cử làm Bí thư Đảo ủy. Cách mạng tháng Tám nổ ra, Đồng chí đã lãnh đạo anh em tù nhân chớp thời cơ giải phóng
nhà tù Côn Đảo lần thứ nhất (1945).
Tháng 9/1945, đồng chí Phạm
Hùng từ Côn Đảo trở về đất liền,
hoạt động cách mạng ở Sóc Trăng;
tháng 10/1945, được bầu vào Xứ ủy Nam bộ, phụ trách Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc; năm 1947, được cử làm Phó Giám đốc Sở Công an Nam Bộ. Năm 1948,
Đồng chí được cử làm Trưởng đoàn đại
biểu Nam bộ ra Việt Bắc. Tháng 6/1950, đồng chí Phạm Hùng trở lại miền Nam và
được Xứ ủy cử phụ trách Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn; tháng 2/1951, được bầu vào Ban Chấp hành
Trung ương Đảng; tháng 3/1952,
được cử làm Phó
Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Phân liên khu ủy miền Đông kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng
chiến hành chính Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.
Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ
về Việt Nam được ký kết, Đồng chí được cử
làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến Nam
bộ năm 1955, được cử làm Trưởng phái đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh Quân
đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban kiểm soát quốc tế tại Sài Gòn.
Tháng 6/1956, Đồng chí được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng; tại Hội
nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị; năm 1957, được cử làm
Trưởng ban Thống nhất của Trung ương.
Tháng 4/1958, tại Kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa I, Đồng chí được bầu
làm Phó Thủ tướng Chính
phủ, phụ trách về kinh tế; tháng
7/1960, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II, tiếp tục được
bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960), Đồng chí
được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư;
tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa III (6/1964), tiếp tục được bầu làm Phó Thủ
tướng Chính phủ, phụ trách kinh tế, tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại
thương.
Từ năm 1967 đến năm 1975, Đồng chí được cử làm Bí thư Trung ương Cục
miền Nam và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, trực tiếp vào chiến trường chỉ đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng,
Đồng chí được giao trọng trách thay mặt Đảng, Chính phủ lãnh đạo, điều hành các công việc của Đảng và Nhà nước ở miền Nam.
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, khóa VI
(6/1976), đồng chí được bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ; tháng 12/1976, Tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, tiếp tục được bầu
vào Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị; năm 1980, được giao trọng trách Phó
Thủ tướng phụ trách nội chính, kiêm Bộ
trưởng Nội vụ (nay là Bộ Công an); tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa VII
(7/1981), tiếp tục được bầu
làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đồng chí
được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị; tại Kỳ
họp thứ nhất, Quốc hội Khóa VIII (6/1987), được bầu
làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, phó
Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng của Quốc hội, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự
Trung ương. Đồng chí là đại biểu Quốc hội các
khóa II, III, VI, VII và khóa VIII.
Ngày 10/3/1988, đồng chí đột ngột từ trần trên đường đi công tác ở các tỉnh
Nam bộ, để lại niềm tiếc thương,
xúc động cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Với 58 tuổi Đảng, 60 năm hoạt động cách mạng phong phú và hào hùng,
đồng chí Phạm Hùng đã nêu một tấm gương
mẫu mực về sự kiên trung, bất khuất,
suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.