Câu 1: Trung ương Cục miền Nam ra đời trong hoàn cảnh nào? Vai trò của Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước?


    Trung ương Cục miền Nam  cơ quan đại diện của Trung ương Đảng tại chiến trường miền Nam trực tiếp chỉ đạo các mặt trận chính trị, quân sự  ngoại giao, tạo sự thống nhất và linh hoạt trong công tác lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ.
    Sau Cách mạng tháng Tám, Xứ ủy Nam Bộ   quan lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp  miền Nam. Đến tháng 3/1951, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (khóa II) quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam, do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư, đồng chí Lê Đức Thọ làm Phó Bí thư. Sau đó, đồng chí Lê Đức Thọ được cử làm Bí thư, đồng chí Phạm Hùng làm Phó Bí thư. 
        Năm 1954, sau Hiệp định Genève, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền Bắc - Nam. Miền Nam nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa; Chính quyền Sài Gòn đã thực hiện chính sách đàn áp khốc liệt, tiến hành các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, thẳng tay truy lùng và tiêu diệt những người kháng chiến cũ, gây tổn thất lớn cho phong trào cách mạng.      

        
            Tháng 10/1954, Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, lập lại Xứ ủy Nam Bộ và các Khu ủy, tại Chắc Băng, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Bạc Liêu. Suốt từ năm 1954 – 1961, vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách và tổn thất nặng nề, sự phát triển của phong trào cách mạng gắn liền với vai trò lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ.
        Năm 1960, sau thắng lợi của phong trào Đồng khởi, cách mạng miền Nam đã chuyển sang một bước ngoặt phát triển mới, làm đảo ngược cục diện chiến trường, đẩy Mỹ-Diệm vào tình thế khủng hoảng bị động. Để cứu nguy cho hình thức thống trị bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới, Hoa Kỳ quyết định tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt” chống lại nhân dân miền Nam.
        Đứng trước tình hình mới, với sự chuyển biến của cách mạng miền Nam, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng ngày càng cao, Trung ương Đảng chủ trương cần phải tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Trung ương đối với cách mạng miền Nam. Vì vậy, khi đề cập đến tổ chức Trung ương Đảng, điều 24 Điều lệ Đảng, được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) ghi rõ: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng có thể cử ra một số uỷ viên trung ương thành lập Trung ương Cục phụ trách chỉ đạo công tác Đảng ở những đảng bộ đặc biệt trọng yếu. Trung ương Cục đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.
        Ngày 23/01/1961, Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) quyết định thành lập lại Trung ương Cục miền Nam. Lễ ra mắt được tổ chức long trọng tại Suối Nhung – Mã Đà – Chiến khu Đ. Đầu 1965, Trung ương Cục được giao nhiệm vụ chỉ đạo Nam bộ và cực Nam Trung bộ, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Xứ ủy Nam bộ, đảm nhận trọng trách Bí thư Trung ương Cục.
        Trung ương Cục miền Nam ra đời tất yếu của lịch sử, vai trò cùng quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vai trò của Trung ương Cục miền Nam được thể hiện trên nhiều khía cạnh, cụ thể:
        Một là, Lãnh đạo và chỉ đạo toàn diện phong trào cách mạng miền Nam
Trung ương Cục miền Nam đóng vai trò là cơ quan đại diện của Trung ương Đảng tại chiến trường miền Nam. Cơ quan này đã lãnh đạo và chỉ đạo toàn diện phong trào cách mạng miền Nam bao gồm cả về chính trị, quân sự và ngoại giao, tạo sự thống nhất và linh hoạt trong công tác lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhờ đó, phong trào cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ, từng bước làm suy yếu chính quyền Sài Gòn.
        Hai là, chỉ đạo đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng quân sự
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, đặc biệt là Quân giải phóng miền Nam, được củng cố và phát triển. Cơ quan này chỉ đạo các chiến dịch quân sự quan trọng có tính chất quyết định đến cục diện của cuộc chiến như Chiến dịch Bình Giã (1964-1965), Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Nguyễn Huệ (1972)..., Các chiến dịch này đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, buộc chúng phải xuống thang và từng bước thất bại.
        Ba là, Tổ chức phong trào đấu tranh chính trị, binh vận và chỉ đạo công tác ngoại giao.
Bên cạnh đấu tranh vũ trang, Trung ương Cục cũng chỉ đạo phong trào đấu tranh chính trị rộng khắp, từ nông thôn đến đô thị. Các phong trào biểu tình, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, phản đối chính quyền Sài Gòn và sự can thiệp của Mỹ được tổ chức mạnh mẽ, đặc biệt là ở Sài Gòn – Gia Định và các đô thị lớn. Song song với đó, công tác binh vận được đẩy mạnh, góp phần làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn.
        Ngoài ra, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo công tác ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với cuộc kháng chiến của dân tộc.
        Bốn là, lãnh đạo xây dựng và bảo vệ căn cứ cách mạng, bên cạnh đó là xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
        Trong chiến tranh giải phóng, Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo xây dựng hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ... Tiêu biểu là căn cứ Bắc Tây Ninh – "Thủ đô kháng chiến" của miền Nam, nơi đặt trụ sở của Trung ương Cục và các cơ quan đầu não. Các vùng căn cứ này không chỉ là nơi trú ẩn an toàn mà còn là hậu phương vững chắc, cung cấp nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến. Ngoài ra Trung ương Cục đã chủ trương xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là liên minh công nhân-nông dân- tri thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
          Năm là, Góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến
        Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục, phong trào cách mạng miền Nam ngày càng lớn mạnh, tạo tiền đề cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Cơ quan này có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, lãnh đạo các trận đánh chiến lược, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
        Nhiệm vụ và tổ chức Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chính trị quy định:
“Theo quy định của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được Ban Chấp hành Trung ương cử ra và ủy nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác đảng ở miền Nam, Trung ương Cục đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo. Trung ương Cục có một Bí thư, một hoặc hai Phó Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương chỉ định và Ban Thường vụ do Hội nghị Trung ương Cục bầu cử. Ngoài ra, tùy theo tình hình và yêu cầu công tác sẽ tổ chức cơ quan giúp việc”.
        Về nhiệm vụ:
        Trong 15 năm (1961 – 1975), Trung ương Cục miền Nam đã tiến hành 15 lần Đại hội toàn thể và ban hành hàng trăm chỉ thị, nghị quyết…chỉ đạo cách mạng miền Nam. Căn cứ Trung ương Cục trở thành trung tâm đầu não chỉ đạo chiến tranh nhân dân cách mạng miền Nam. Nhiều chủ trương, quyết sách của Đảng và Bác Hồ đã được triển khai cụ thể hóa từ trung tâm này để lan rộng ra toàn chiến tranh miền Nam. Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng thời kỳ này đã có trên 30 bức thư và điện gửi cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam đã hoàn thành công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
        Thực tiễn hào hùng của cuộc kháng chiến đã chứng minh cho quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Trung ương Cục đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của mình và để lại những bài học quý báu. Nhờ có sự lãnh đạo và chỉ đạo của Trung ương Cục, quân và dân miền Nam đã giành được nhiều thắng lời quan trọng, góp phần quyết định vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

THƯ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM QUA CÁC THỜI KỲ

1.  Đồng chí Lê Duẩn (1951-1954)

Đồng chí Duẩn (1907 - 1986) tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907 ở làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xuất thân từ một gia đình lao động, truyền thống yêu nước, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi theo con đường cách mạng sản. Đồng chí Duẩn tham gia phong trào yêu nước từ năm 1926, tham gia và hoạt động trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928 đến năm 1930 trở thành một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương.

                                                    Đồng chí Lê Duẩn (1907-1986)

        Năm 1931, khi đang là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm bị giam giữ các nhà lao Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Tại các nhà tù, đồng chí cùng nhiều đảng viên cộng sản đã lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chế độ khắc của nhà tổ chức học tập, truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin, giác ngộ lý tưởng cách mạng cho anh em trong lao tù. Năm 1939, đồng chí Lê Duẩn được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng và đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư của Đảng chủ trì Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương (11/1939), chuẩn bị những điều kiện cần thiết tiến tới giành chính quyền về tay nhân dân. Năm 1940, đồng chí bị địch bắt Sài Gòn, kết án 10 năm đày đi Côn Đảo lần thứ hai. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất liền và tham gia cuộc kháng chiến Nam Bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Duẩn. Ảnh tài liệu

        Từ năm 1946, đồng chí được ra Nội làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuối năm đó, đồng chí được Bác Hồ Trung ương Đảng cử vào lãnh đạo cuộc kháng chiến Nam Bộ. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, đồng chí được bầu vào BCH Trung ương và Bộ Chính trị. Từ năm 1946-1954, với cương vị là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.

        Từ năm 1954 - 1957, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương phân công lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III, đồng chí tiếp tục được bầu vào BCH Trung ương, Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư Thứ nhất.

        Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, người lãnh đạo cao nhất của Đảng, cùng với Bộ Chính trị và BCHTW Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giữ vững quyết tâm chiến đấu, biến đau thương thành hành động cách mạng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thực hiện xuất sắc Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.

        Đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), lần thứ V (1982) của Đảng nhiều Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với BCHTW từng bước xây dựng một hệ thống quan điểm về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và đã lãnh đạo thực hiện đạt được những thành tựu quan trọng, đó là: việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của CNXH; là sự đảm bảo vững chắc về chính trị và an ninh quốc phòng của Tổ quốc; những thành tựu về văn hóa, đạo đức, cùng quan hệ tốt đẹp giữa người với người do chế độ xã hội chủ nghĩa đem lại.

                 2. Đồng chí Nguyễn Văn Linh (1961-1964)

        Đồng chí Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 trong 1 gia đình công chức tại xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên).

        Từ năm 1929, đồng chí đã tham gia Học sinh đoàn tổ chức của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên lãnh đạo. Ngày 1-5-1930, lúc mới 15 tuổi, đồng chí Nguyễn Văn Linh được tổ chức Học sinh Đoàn của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phái đi rải truyền đơn.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh (1915-1998)

        Tháng 9-1936, đồng chí Nguyễn Văn Cúc (tức Nguyễn Văn Linh) mới Côn Đảo ra, được Trung ương cử về Hải Phòng nắm tình hình, tham gia xây dựng tổ chức Đảng và phong trào cách mạng. Từ đó cho đến đầu năm 1937, hệ thống tổ chức cơ sở Đảng và cơ sở cách mạng tiếp tục được củng cố. Đồng chí đã xây dựng cơ sở đảng, thành lập nhiều chi bộ và Thành ủy lâm thời Hải Phòng.

        Khoảng cuối năm 1938, đầu năm 1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ Trung ương điều động đồng chí Nguyễn Văn Linh vào Sài Gòn hoạt động và tham gia Thành ủy Sài Gòn. Khi ấy đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đang làm thư Thành ủy Sài Gòn, đồng chí Nguyễn Văn Linh vào làm Phó bí thư Thành ủy.

        Cuối năm 1939, được phân công tham gia lập lại Xứ ủy Trung Kỳ. Đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Văn Linh bị thực dân Pháp bắt ở Vinh, chúng đưa đồng chí về Sài Gòn xử án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được đón về Nam Bộ hoạt động ở miền Tây.

        Hội nghị Xứ ủy (mở rộng) tháng 11-1946, họp tại kinh Năm Ngàn trong chiến khu Đồng Tháp Mười. Xứ ủy lâm thời Nam Bộ gồm các đồng chí: Phạm Hùng, Huy Giáp, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Trần Văn Trà, Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng Dư Khương, Nguyễn Văn Tiếp; do đồng chí Phạm Hùng làm thư. Hội nghị ra Nghị quyết củng cố các Liên Tỉnh ủy miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Cúc được phân công về phụ trách thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, trực tiếp lãnh đạo kháng chiến với các chức vụ Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn - Gia Định vào giữa năm 1947.

        Tháng 12-1947, đồng chí Nguyễn Văn Cúc được bầu vào Xứ ủy Nam Bộ, do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư Xứ ủy. Từ năm 1949, đồng chí tham gia Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ. Sau khi đồng chí Duẩn ra Bắc (cuối tháng 4 - đầu tháng 5-1957), đồng chí Phạm Hữu Lầu thay làm Quyền thư Xứ ủy. Cuối năm 1957, đồng chí Nguyễn Văn Linh về làm Quyền Bí thư Xứ ủy đến năm 1960.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh tại Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam ngày Mồng 5 Tết

Ất Mão. Ảnh Tài liệu

        Ngày 27-3-1960, để chuẩn bị cho Hội nghị thành lập Trung ương Cục miền Nam, Trung ương Đảng quyết định nhân sự của Trung ương Cục miền Nam gồm: Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm Bí thư, Phan Văn Đáng làm Phó bí thư, Võ Chí Công (Toàn), Phó bí thư. Tháng 9-1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

        Ban quân sự Miền được thành lập (1961) để chỉ huy các lực lượng trang miền Nam. Đến tháng 10-1963, Ban quân sự Miền được thay bằng Bộ Chỉ huy Miền, do Trung tướng Trần Văn Trà làm lệnh. Quân ủy Miền do thư Trung ương Cục miền Nam Nguyễn Văn Linh làm Bí thư.

        Ngày 4-11-1967, tại Hội nghị toàn thể Trung ương Cục miền Nam theo Quyết nghị của Bộ Chính trị về chuẩn bị Tổng công kích, tổng khởi nghĩa củng cố các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy ở chiến trường B2, đồng chí Phạm Hùng được giao nhiệm vụ Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền (thay Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trần tại Hà Nội tháng 6-1967). Các Phó thư Trung ương Cục gồm có đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng, Hoàng Văn Thái; Bộ Chỉ huy Quân ủy Miền do đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư; Phó bí thư là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thái.

        Ngày 1-8-1969, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam, vừa từ chiến trường ra báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh Trung ương về các “chiến dịch bình định cấp tốc” Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang xúc tiến trên toàn chiến trường miền Nam. Dù đang ốm mệt, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Linh rằng: “Bất cứ trong tình huống nào cũng phải bám chắc lấy dân, dựa vào dân để mà tồn tại. Đó là cái chìa khóa của mọi thắng lợi”.

        Sau Hội nghị Bình Giã V (tháng 1-1972), đến tháng 4-1972, tổ chức bộ máy của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định được củng cố và bổ sung thêm một số Thành ủy viên và do đồng chí Nguyễn Văn Linh - Phó bí thư Trung ương Cục trực tiếp phụ trách làm Bí thư (đến tháng 10-1972), Phó bí thư Thành ủy là đồng chí Mai Chí Thọ. Trên cương vị Bí thư và Phó bí thư Trung ương Cục, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo quân và dân miền Nam làm cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ, cứu nước từ những năm tháng đen tối đến ngày toàn thắng trong mùa xuân lịch sử năm 1975.

        Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng và Tổ quốc Việt Nam được thống nhất (1975), đồng chí Nguyễn Văn Linh được phân công trở lại làm Bí thư Thành ủy THÀNH PHỐ Hồ Chí Minh Tháng 12-1976, tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư, được phân công giữ các chức vụ: Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp tư doanh của Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Sau đó, được phân công theo dõi thực hiện Nghị quyết của Đảng và Chính phủ ở các tỉnh miền Nam. Tháng 12-1981, đồng chí Nguyễn Văn Linh lại được Trung ương quyết định vào làm Bí thư Thành ủy THÀNH PHỐ Hồ Chí Minh. Tháng 3-1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6-1985, tại Hội nghị Trung ương 8, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị.

        Tháng 6-1986, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban thư Trung ương Đảng, được phân công Thường trực Ban Bí thư. Tháng 12-1986, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương được bầu làm Tổng thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng… Do có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, đồng chí được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

3.     Đồng c Nguyễn Chí Thanh (1964-1967)

        Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914 - 1967) tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914, tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tham gia cách mạng từ năm 1934 và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937. Trong cuộc đời cách mạng của mình ông đã trải qua nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng như: Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Khu ủy khu IV Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, thư Phân Khu ủy Bình - Trị - Thiên; Bí thư Liên khu ủy IV, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam... Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Nguyễn Chí Thanh tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Năm 1961, ông được giao nhiệm vụ Phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Từ năm 1965 đến năm 1967, ông được phân công vào miền Nam để giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam…

  Đại tướng Nguyễn Chí Thanh 

        (1914-1967)

        Khi được cử vào chiến trường miền Nam với cương vị thư Trung ương Cục, Chính ủy các lực lượng vũ trang Quân Giải phóng miền Nam, Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra chiến thuật đánh áp sát của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Kết quả của chiến thuật này là những chiến thắng liên tiếp: Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài… Từ thực tiễn chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thành các bài báo gửi ra miền Bắc với các bút danh: Trường Sơn, Người quan sát, S.K.Z… Các bài viết của ông không chỉ phân tích sâu sắc tình hình, cục diện chiến trường miền Nam với tư cách của một người đang lăn lộn thực tế ở chiến trường mà còn thể hiện duy của một nhà chiến lược tài ba. Những chiến thuật mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vạch ra đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thực hiện đầy hiệu quả, mang lại nhiều chiến thắng trên chiến trường, làm thay đổi tương quan lực lượng và diễn biến trên chiến trường miền Nam, giúp Quân giải phóng thu được nhiều thắng lợi.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (ngoài cùng bên phải) cùng đồng chí Lê Duẩn
trò chuyện cùng một chiến sĩ trẻ. Ảnh: Tư liệu TTXVN

        Vào giữa năm 1967 Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường ra Hà Nội để báo cáo tình hình với Bác Hồ và Bộ Chính trị, đồng thời báo cáo việc chuẩn bị kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 để tạo bước ngoặt quyết định. Nhưng ông đã không kịp quay lại chiến trường nữa khi không may qua đời do một cơn đau tim vào ngày 6.7.1967, lúc mới 53 tuổi. Ông là một nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, đồng thời là một thiên tài quân sự.

4.         Đồng c Phạm Hùng (1967-1975)

        Đồng chí Phạm Hùng tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11-6-1912, trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước cách mạng tại ấp Long Thiềng, làng Long Hồ, tổng Long Bình, huyện Vĩnh Bình, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc ấp Long Thuận A, xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Đồng chí Phạm Hùng (1912-1988)

        Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, khi còn học sinh. Năm 1930, Đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông dương, làm Bí thư Chi bộ trường học hoạt động qua các cấp chi ủy xã, huyện ủy, tỉnh ủy Mỹ Tho. Tháng 6/1931, Đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 3 năm tù, 3 năm quản thúc. Trong lao tù, Đồng chí tiếp tục tổ chức cho nhân đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến. Ngày 20/9/1932, thực dân Pháp mở phiên tòa đại hình tại tỉnh Mỹ Tho, kết án tử hình Đồng chí và đưa về giam ở xà lim án chém Khám Lớn Sài Gòn. Trước cuộc đấu tranh mãnh liệt của nhân dân ta và nhân dân Pháp, Đảng Cộng sản Pháp Quốc tế cộng sản, thực dân Pháp buộc phải giảm án tử hình cho một số chiến sỹ cộng sản ở Việt Nam, Đồng chí Phạm Hùng được giảm xuống án khổ sai chung thân và đày đi Côn Đảo từ ngày 17/1/1934.

        Trong năm 1934, Đồng chí được bổ sung vào chi ủy nhà tù Côn Đảo sau đó được cử làm Bí thư Đảo ủy. Cách mạng tháng Tám nổ ra, Đồng chí đã lãnh đạo anh em nhân chớp thời giải phóng nhà Côn Đảo lần thứ nhất (1945).

        Tháng 9/1945, đồng chí Phạm Hùng từ Côn Đảo trở về đất liền, hoạt động cách mạng ở Sóc Trăng; tháng 10/1945, được bầu vào Xứ ủy Nam bộ, phụ trách Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc; năm 1947, được cử làm Phó Giám đốc Sở Công an Nam Bộ. Năm 1948, Đồng chí được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Nam bộ ra Việt Bắc. Tháng 6/1950, đồng chí Phạm Hùng trở lại miền Nam và được Xứ ủy cử phụ trách Đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn; tháng 2/1951, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng; tháng 3/1952, được cử làm Phó Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Phân liên khu ủy miền Đông kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

        Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam được kết, Đồng chí được cử làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến Nam bộ năm 1955, được cử làm Trưởng phái đoàn đại diện Bộ Tổng lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban kiểm soát quốc tế tại Sài Gòn.

        Tháng 6/1956, Đồng chí được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng; tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị; năm 1957, được cử làm Trưởng ban Thống nhất của Trung ương.

        Tháng 4/1958, tại Kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa I, Đồng chí được bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách về kinh tế; tháng 7/1960, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II, tiếp tục được bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ.

        Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960), Đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư; tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa III (6/1964), tiếp tục được bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách kinh tế, tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương.

        Từ năm 1967 đến năm 1975, Đồng chí được cử làm thư Trung ương Cục miền Nam và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, trực tiếp vào chiến trường chỉ đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đồng chí được giao trọng trách thay mặt Đảng, Chính phủ lãnh đạo, điều hành các công việc của Đảng Nhà nước miền Nam.

        Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, khóa VI (6/1976), đồng chí được bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ; tháng 12/1976, Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị; năm 1980, được giao trọng trách Phó Thủ tướng phụ trách nội chính, kiêm Bộ trưởng Nội vụ (nay là Bộ Công an); tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa VII (7/1981), tiếp tục được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

        Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị; tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa VIII (6/1987), được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng của Quốc hội, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đồng chí đại biểu Quốc hội các khóa II, III, VI, VII khóa VIII.

        Ngày 10/3/1988, đồng chí đột ngột từ trần trên đường đi công tác các tỉnh Nam bộ, để lại niềm tiếc thương, xúc động cho toàn Đảng, toàn dân toàn quân. Với 58 tuổi Đảng, 60 năm hoạt động cách mạng phong phú và hào hùng, đồng chí Phạm Hùng đã nêu một tấm gương mẫu mực về sự kiên trung, bất khuất, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.