Câu 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đồng chí (anh, chị) hãy cho biết hoàn cảnh và ý nghĩa của lời kêu gọi đó đối với việc xác định đường lối lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước?

        Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (năm 1954), cách mạng Việt Nam đứng trước tình hình mới. Miền Bắc nước ta được giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng ở miền Nam, đế quốc Mỹ thay thế thực dân Pháp thống trị và dựng lên chính quyền tay sai, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam.
        Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của cách mạng miền Nam và sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ vẫn không chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Chúng tiếp tục leo thang chiến tranh nhằm cứu vãn cho ngụy quân đang trên đà sụp đổ. Chúng thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” - một “cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử loài người” đưa hàng chục vạn lính viễn chinh Mỹ và chư hầu đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, đẩy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên nấc thang cao nhất. Ở miền Bắc, đế quốc Mỹ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” (tháng 8/1964), để dùng không quân và hải quân đánh phá ra miền Bắc, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Đế quốc Mỹ đe dọa, nếu Việt Nam không chấp nhận những điều kiện của chúng, chúng sẽ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam bước vào giai đoạn mới với nhiều thách thức hết sức quyết liệt.
        Nhân dân hai miền Nam - Bắc tiếp tục vượt qua những khó khăn lớn để thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc tiếp tục bước vào thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm nhiệm vụ hậu phương lớn cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của đồng bào miền Nam, đồng thời chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, là tiền tuyến lớn trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
        Giai đoạn này, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế xuất hiện khuynh hướng đánh giá quá cao (sức mạnh) đế quốc Mỹ, làm nảy sinh tư tưởng do dự, hữu khuynh, “hòa bình chủ nghĩa”, sợ xung đột nhỏ có thể gây ra chiến tranh thế giới, nhất là nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Điều này gây ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng của quân và dân ta. Ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân xuất hiện tư tưởng “sợ Mỹ”, cho rằng đánh Mỹ là “phiêu lưu mạo hiểm”, khác nào “châu chấu đá voi”, “đem trứng chọi đá”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại một Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng. Ảnh tài liệu

        Tình hình này nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng cách mạng. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp Trung ương Đảng lần thứ 11 (tháng 3/1965) và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12/1965) của Đảng đã thống nhất khẳng định quyết tâm: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi đồng bào chiến cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Hà Nội, ngày 17/7/1966. Ảnh Tư liệu

        Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Hà Nội, ngày 17/7/1966. Ảnh Tư liệuTrước khả năng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có thể còn lâu dài và vô cùng ác liệt, để khẳng định quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của đất nước, đồng thời để thống nhất về nhận thức và tư tưởng, củng cố niềm tin cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong giai đoạn chiến đấu mới quyết liệt hơn, khó khăn, gian khổ và hy sinh nhiều hơn để giành thắng lợi hoàn toàn, ngày 17/7/1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước anh dũng tiến lên chống Mỹ, cứu nước.
        Lời kêu gọi thiêng liêng, bất hủ của Bác là khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam, có giá trị to lớn trong học thuyết Hồ Chí Minh và cũng chính là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp vĩ đại đấu tranh vì độc lập, tự do, vì sự tồn tại và phát triển của dân tộc; đồng thời là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với nhân loại tiến bộ, đặc biệt đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc.
        Có thể nói, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đặc biệt, tư tưởng đó là sự đúc kết tinh thần yêu nước mãnh liệt, ý chí sắt đá và nguyện vọng thiết tha của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
        “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là chân lý của mọi thời đại. Độc lập, tự do là điều kiện tiên quyết để xây dựng một đất nước phồn vinh, dân tộc phát triển, người dân ấm no, hạnh phúc. Độc lập, tự do của dân tộc là vô cùng quý giá và thiêng liêng. Bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc mình đồng thời tôn trọng độc lập, tư do của dân tộc khác là điều kiện để xây dựng một thế giới hòa bình và phát triển.
        Do đó, không một quốc gia nào, thế lực nào có thể tự cho mình quyền can thiệp và xâm phạm độc lập, tự do của các quốc gia dân tộc khác, càng không thể có quyền thực hiện sự can thiệp đó bằng những hành động vũ lực. Nền độc lập mà Chủ tịch Hồ chí Minh nói đến phải là nền độc lập hoàn toàn, độc lập thực sự không phải là nền độc lập nửa vời, độc lập hình thức. Độc lập trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, người dân có quyền quyết định con đường phát triển của dân tộc mình, không bị lệ thuộc vào bên ngoài
        Để có được độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên bài học lý luận có ý nghĩa to lớn, đó là dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Để có được độc lập, tự do, các dân tộc phải đứng lên tự quyết định lấy chính vận mệnh của dân tộc mình.
        Một dân tộc không thể có được và không xứng đáng được hưởng độc lập, tự do nếu dân tộc ấy không tự đứng lên để giải phóng cho chính mình. Do đó, khi độc lập, tự do bị xâm phạm thì cả dân tộc phải kiên quyết đứng lên chiến đấu đến cùng để giữ vững và bảo vệ nền độc lập và tự do ấy, không thể bị động chờ đợi sự giúp đỡ của các lực lượng bên ngoài, càng không thể ngồi yên chờ đợi vào sự “ban ơn” của các nước đế quốc, thực dân.
        Tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng mang tầm vóc thời đại. Tác phẩm như một lời hịch vang vọng núi sông, hiệu triệu toàn dân tộc đồng tâm, nhất trí, vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiến về phía trước; khơi dậy ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc; thống nhất ý chí, niềm tin, củng cố đội ngũ, đoàn kết một lòng cùng bước vào giai đoạn quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
        Từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Cuộc trường chinh xây dựng "đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" theo sự chỉ dẫn của Bác Hồ "chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi" đã đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tiềm lực đất nước và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
        Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta tiến hành trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những thay đổi nhanh chóng, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định.
        Đối với nước ta, gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thế và lực ngày càng được tăng cường, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo điều kiện, tiền đề cho bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc hơn trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa quân đội” nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.
        Trước tình hình đó, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đòi hỏi chúng ta phải ra sức củng cố quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền đất nước, bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân là đóng vai trò là nòng cốt. Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".
        Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định lại kết luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.
        Tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định sự trường tồn của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” thông qua đường lối đối ngoại được nêu rõ tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đó là, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Cùng với đó, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Đại hội cũng nêu rõ nhiệm vụ của đối ngoại là: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”. Đồng thời, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định lại kết luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ảnh internet

        Tổng bí thư Tô Lâm gặp Tổng thư ký LHQ Antonio Guterres. Ảnh Internet



“Không có gì quý hơn độc lập tự do” là chân lý bất hủ. Ảnh tư liệu

*Ý nghĩa của lời kêu gọi “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đối với việc xác định đường lối lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với việc xác định đường lối lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứ nước. Nó thể hiện ý chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đồng thời, đó cũng chính là sự khẳng định chân lý ngàn đời của dân tộc Việt Nam: độc lập, tự do là giá trị thiêng liêng nhất, là mục tiêu cao cả nhất mà mỗi người dân Việt Nam luôn hướng tới và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ.
        Đầu tiên, đó cũng chính là lời khẳng định chân lý lịch sử và giá trị cốt lõi của dân tộc. Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một tuyên ngôn chính trị mà còn là một chân lý bất hủ, thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng tự do của dân tộc Việt Nam.

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với cán bộ, nhân viên nhà máy xe lửa Gia Lâm. Ảnh tư liệu

        Niềm tin tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, kẻ địch có sức mạnh về kinh tế và quân sự lớn hơn chúng ta rất nhiều, đó là bởi tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc; bởi sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; bởi truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc và sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Lời kêu gọi khẳng định rằng dù kẻ thù có mạnh đến đâu, có nhiều vũ khí và tiền bạc đến đâu cũng không thể chiến thắng một dân tộc có chính nghĩa, có tinh thần kiên cường và ý chí bất khuất. Cái chính nghĩa phải thắng cái phi nghĩa, cái thiện phải thắng cái ác, nền văn minh phải chiến thắng bạo tàn.
        Hòa bình không chỉ là mong muốn của riêng dân tộc Việt Nam mà là của toàn nhân loại. Nhưng đó phải là hòa bình chân chính, hòa bình trong độc lập và tự do. Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng không có nền hòa bình nào thực sự có ý nghĩa nếu dân tộc còn bị áp bức, nô dịch. Đây chính là tư tưởng xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng ta.
        “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ là lời khẳng định chân lý lịch sử mà đó là lời hiệu triệu thiêng liêng, quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Lời kêu gọi của Bác được đưa ra vào thời điểm quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc và đưa quân trực tiếp vào miền Nam. Nó có ý nghĩa như một cuộc vận động lớn, tạo sự thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, củng cố ý chí quyết tâm đánh Mỹ đến cùng.
        Lời của Bác đã trở thành ngọn cờ tập hợp sức mạnh dân tộc, là động lực mạnh mẽ, thôi thúc các tầng lớp nhân dân Việt Nam, từ người già đến thanh niên, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, đoàn kết một lòng, cùng nhau đứng lên chống Mỹ.
Câu nói “ Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Bác đã trở thành ngọn cờ tập hợn sức mạnh dân tộc, tất cả cùng nhau đoàn kết một lòng, cùng nhau đứng lên chống Đế quốc Mỹ.Ảnh tài liệu

        "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn."
        Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi tất cả các lực lượng: “Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. Người đã củng cố niềm tin đó bằng việc nhắc lại chiến thắng vĩ đại của Quân đội và nhân dân Việt Nam trước cả phát xít Nhật và thực dân Pháp trong hoàn cảnh khó khăn hơn lúc này rất nhiều.
Đất nước trọn niềm vui trong ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu.
       
 Cùng với việc khơi dậy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường, không chịu khuất phục trước cường quyền bạo lực của nhân dân Việt Nam, Người một lần nữa kêu gọi: “Chúng ta quyết đồng tâm nhất trí, vượt mọi gian khổ hy sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của dân tộc ta là đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!”.
        Và cuối cùng, lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” giúp củng cố đường lối kháng chiến toàn diện, kết hợp quân sự, chính trị, ngoại giao. Lời kêu gọi của Bác không chỉ thể hiện ý chí kiên cường mà còn định hướng chiến lược kháng chiến của Đảng ta: không chờ đợi, không trông chờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài, mà phải tự lực, tự cường, tự giải phóng mình. Tư tưởng này đã chi phối đường lối kháng chiến chống Mỹ, trong đó Việt Nam vừa tiến hành đấu tranh vũ trang mạnh mẽ, vừa đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận và ngoại giao, cụ thể:
Hình ảnh người chiến sỹ bên xác Máy bay địch bị bắn rơi. Ảnh tư liệu

        Trên mặt trận quân sự, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam liên tiếp đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, từ "Chiến tranh đặc biệt", “ Chiến tranh cục bộ” đến "Việt Nam hóa chiến tranh" và kết thúc là Đại thắng mùa xuân năm 1975.
        Có thể nói, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” cùng với với những đường lối, chủ trương đúng đắn kịp thời của Đảng. Trên mặt trận quân sự, quân và dân ta đã từng bước đánh bại từng chiến lược chiến tranh của địch, giành thắng lợi từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút” đã được thực hiện thành công, tiêu biểu:
        Chiến thắng Vạn Tường – Quảng Ngãi: Tháng 3/1965, trở thành cột mốc đánh dấu sự leo thang của Mỹ khi những đơn vị thủy quân lục chiến đầu tiên đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, trực tiếp thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Với việc đưa quân viễn chinh trực tiếp vào tham chiến với quy mô lớn, gỡ thế thua, thay đổi cục diện và dành thắng lợi trên chiến trường Việt Nam. Mỹ đề ra chiến lược trong 3 giai đoạn, trong hơn 2 năm và rút quân vào năm 1967. Ngày 18/8/1965, hơn 9.000 lính thủy đánh bộ Mỹ và quân đội Sài Gòn từ Chu Lai – Quảng Nam cùng 11 tàu đổ bộ và 100 máy bay lên thẳng mở cuộc hành quân “Ánh sáng sao” vào thôn Vạn Tường – Quảng Ngãi hòng tìm diệt một đơn vị chủ lực của quân giải phóng để tạo thành thế cho quân viễn chính Mỹ và mở rộng vùng an toàn cho căn cứ Chu Lai.
Chiến thắng Vạn Tường – Quảng Ngãi. Ảnh tư liệu

        Đứng chân tại Vạn Tường chỉ có một trung đoàn quân giải phóng đang huấn luyện củng cố lực lượng và quyết tâm trụ lại tại chỗ đánh địch. Sau hơn một ngày chiến đấu quân giải phóng đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 900 lính Mỹ và đồng minh, bắn cháy 22 xe tăng, xe bọc thép, bắn hạ 13 máy bay, buộc định phải rút lui. Trận Vạn Tường là trận đầu tiên quân viễn chinh Mỹ trực tiếp chiến đấu quy mô lớn trên chiến trường miền Nam Việt Nam và phải chịu tổn thất ngoài sức tưởng tượng và chúng ta có thể coi trận Vạn Tường là bước ngoặt chứng minh rằng quân giải phóng miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại được quân đội Mỹ trong điều kiện chúng có mọi ưu thế tuyệt đối về binh khí và hỏa lực so với quân giải phóng. Sau chiến thắng Vạn Tường quân giải phóng liên tiếp gây bất ngờ với quân đội Mỹ với những trận đánh và chiến thắng trên chiến trường. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ phá sản.
        Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968: Tháng 4/1967, trong chuyến công tác của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra miền Bắc báo cáo về tình hình miền Nam. Đại tướng đã đề xuất những cuộc tiến công đánh thẳng vào hang ổ của Mỹ trong các thành phố, thị xã để tạo chuyển biến lớn. Một kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam được vạch ra vào năm bản lề 1968, năm bầu cử tổng thống Mỹ. Đây chính là một cú đập lớn để tạo bước đột phá chiến lược nhằm buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, từ bỏ chiến tranh.
Tấn công vào Sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh tư liệu

        Đêm 29, rạng sáng 30 tháng Giêng, thời khắc lịch sử của giao thừa Tết Mậu Thân năm 1968, quân giải phóng đồng loạt tấn công vào 5 trong 6 thành phố lớn, 37 thị xã, 64 thị trấn trên toàn miền Nam. Trong thời gian ngắn, ta loại khỏi vòng chiến đấu 150 nghìn quân đội, trong đó có 40 nghìn quân Mỹ, phá hủy 30% vật tư chiến tranh (hơn một triệu tấn); phá hơn 600 ấp chiến lược, giải phóng 1,3 triệu dân... Đây là lần xuất quân có tầm vóc, quy mô và khí thế cao chưa từng có kể từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bắt đầu cho đến năm 1968, đã giáng một đòn bất ngờ làm đảo lộn toàn bộ chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cuộc tổng tấn công táo bạo của quân giải phóng đã trở thành nỗi bất ngờ lớn trong chiến tranh Việt Nam, đập tan hy vọng về “...Ánh sáng cuối đường hầm trong những báo cáo lạc quan của Mỹ và chính quyền Sài Gòn”, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán chấm dứt hoàn toàn chiến tranh tại Việt Nam.
        Thắng lợi của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Sau một thời gian rất dài đàm phán (từ 13/5/1968 đến 17/10/1972), văn bản hiệp định cơ bản đã được hoàn tất theo tinh thần Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam và dự kiến thời điểm ký kết Hiệp định là ngày 31/10/1972. Tuy nhiên, tháng 12-1972, sau khi đơn phương tuyên bố hoãn vô thời hạn Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đế quốc Mỹ mưu đồ mở cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào miền Bắc Việt Nam, với trọng điểm tấn công là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng. Chiến dịch bắt đầu từ ngày 18/12/1972 và kết thúc vào ngày
        29/12/1972, phía Mỹ gọi trận không kích ở Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm ấy là “Chiến dịch Linebacker II” hay còn với cái tên là “Chiến dịch ném bom lễ Giáng sinh” nhằm phá hủy, tiêu diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, gây sức ép buộc Việt Nam phải ngồi vào bàn đàm phán với những điều khoản có lợi cho phía Mỹ. “Chiến dịch ném bom lễ Giáng sinh” có thể coi là cuộc tập kích bằng đường không với sự huy động lực lượng lớn nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với chủ yếu là “siêu pháo đài bay” B-52 của không lực Mỹ, cùng hàng trăm máy bay ném bom, nhiều tàu sân bay, tàu chiến hiện đại nhất thế giới vào thời điểm bấy giờ.
        Tuy nhiên, với bản lĩnh, trí tuệ kiên cường, quân và dân Thủ đô Hà Nội, bộ đội phòng không – không quân đã phát huy cao độ vai trò nòng cốt đi đầu trong kháng chiến chống Mỹ để đương đầu với thử thách chưa từng có trong lịch sử, đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ bằng B- 52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Kết quả, sau 12 ngày đêm chiến đấu chưa bao giờ Đế quốc Mỹ chịu tổn thất nặng nề như trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh vào Hà Nội, Hải Phòng,... Trong chiến dịch lịch sử này, quân và dân ta đã bắn rơi 34 máy bay B-52, 81 máy bay A-7, 01 máy bay F-105, 04 máy bay AD- 6, máy bay trực thăng HH-53, một máy bay không người lái, bắt sống nhiều giặc lái, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có một không hai trong lịch sử. Đúng như Phó Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, tướng George Eade phải cay đắng thừa nhận: “Tổn thất về máy bay chiến lược B52 cùng phi hành đoàn là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch định kế hoạch hàng đầu của Lầu Năm góc”.
Bộ đội Tên lửa quyết tâm bảo vệ bầu trời Thủ đô. Ảnh tư liệu

        Thắng lợi ở Vạn Tường-Quảng Ngãi, thắng lời của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968” và thắng lợi trong chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của chiến tranh nhân dân, chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Việt Nam; Đây là những chiến thắng có tính bước ngoặt trên mặt trận quân sự để đi đến ngày thắng lợi cuối cùng.
        Trên mặt trận chính trị, các phong trào đấu tranh đặc biệt là các phong đào đấu tranh ở đô thị, đấu tranh của nhân dân miền Nam cùng với sự hậu thuẫn của miền Bắc đã tạo áp lực lớn đối với chính quyền Sài Gòn và Mỹ.
Các Phong trào đấu tranh nổ ra ở các đô thị lớn của Miền Nam. Ảnh tư liệu
        Trong giai đoạn 1954-1965, khắp miền Nam nổi lên với nhiều phong trào đấu tranh, nổi bật có thể kể đến là Phong trào bảo vệ hòa bình. Phong trào khởi phát từ Sài Gòn với sự tham gia của nhiều trí thức lớn như các luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo; các giáo sư Phạm Huy Thông, Nguyễn Văn Dưỡng cùng đông đảo nhiều tầng lớp xã hội khác. Từ Sài Gòn, phong trào này lan rộng ra Huế và nhiều đô thị khác. Phong trào bảo vệ hòa bình là tiếng nói của chính nghĩa tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân vào cuộc đấu tranh chống chiến tranh, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi hòa bình, chống chia cắt đất nước.
        Đặc biệt là kể từ sau Đồng Khởi, Phong trào đô thị phát triển với quy mô rộng lớn và tính chất quyết liệt hơn. Chỉ riêng ở đô thành Sài Gòn, năm 1960 đã nổ ra 227 cuộc đấu tranh, năm 1961 là 287 cuộc, năm 1962 là 324 cuộc và kết thúc năm 1963 với 503 cuộc. Trong giai đoạn này đáng chú ý có Phong trào Phật giáo năm 1963 phản đối chính sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Phong trào đó đã châm ngòi cho cuộc đấu tranh của giới tăng ni, Phật tử kéo dài đến ngày kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
        Cùng với đó là các cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân sinh, dân chủ khác như đấu tranh chống khủng bố, đòi tự do nghiệp đoàn; đấu tranh đòi dân chủ trong lĩnh vực văn hóa giáo dục... Các cuộc đấu tranh đã góp phần làm “nóng” tình hình tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang, Đà Lạt... Phong trào đô thị giai đoạn này được nhìn nhận như một mũi tiến công sắc bén của cách mạng miền Nam, đúng như đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét “Cả trong thành thị cũng dấy lên những làn sóng cách mạng quyết liệt, làm rối loạn hậu phương của địch, làm lung lay tận gốc chế độ bù nhìn... Chiến tranh cách mạng đã phát triển lên một bước mới”.
Một phong trào đấu tranh bị Chính quyền Sài gòn đàn áp. Ảnh tư liệu

        Khi đế quốc Mỹ tiến hành Chiến tranh cục bộ, các phong trào ở miền Nam càng trở nên quyết liệt và mạnh mẽ hơn bao giờ hết, đỉnh điểm là năm 1966 với sự xuất hiện của nhiều tổ chức như Lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng, Hội đồng sinh viên tranh thủ cách mạng ở Huế và các cuộc xuống đường đòi “Thiệu- Kỳ từ chức”, “Mỹ phải rút quân về nước” tại nhiều đô thị khác. Riêng tại Đà Nẵng, ngày 30-3-1966, hơn 10 vạn quần chúng nhân dân đã xuống đường bất chấp chính quyền cho quân đàn áp một cách dã man. “Chia lửa” với nhân dân Đà Nẵng, nhân dân Sài Gòn tổ chức những Đêm không ngủ với hàng vạn người tham gia để phản đối quân đội Sài Gòn đàn áp dã man cuộc xuống đường. Khu ủy miền Đông Nam Bộ đánh giá: “Đây là lần đầu tiên quần chúng biểu thị một khí thế chống Mỹ mạnh mẽ nhất, với nội dung đúng đắn nhất”.
        Thật khó có thể kể hết các phong trào đấu tranh diễn ra ở các đô thị giai đoạn này. Nhiều phong trào đã tạo được sự cộng hưởng và gây được tiếng vang lớn như phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe của giới văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên; phong trào Phụ nữ đòi quyền sống của phụ nữ,
        Đáng chú ý, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, các phong trào ở miền Nam diễn ra ngày càng mạnh, lôi kéo thêm nhiều thành phần trung gian, kể cả công chức, sĩ quan, binh lính Sài Gòn - những người chán ghét chiến tranh, có tinh thần dân tộc, có cảm tình với phong trào đấu tranh của quần chúng. Họ tự nguyện đứng vào đội ngũ của ta đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Riêng tại Sài Gòn - Gia Định đã có tổng cộng khoảng 30 đoàn thể chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo... liên kết thành một Mặt trận đối lập với chính quyền Sài Gòn. Với những tuyên ngôn, kháng nghị, thông cáo... bằng lời lẽ mạnh mẽ, các tổ chức đã thể hiện một tinh thần dân tộc, một lập trường yêu nước rõ ràng, dứt khoát: Chống chiến tranh, chống Mỹ, đòi lật đổ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đòi thi hành Hiệp định Pa-ri.
        Và trong thời khắc cuối cùng của cuộc kháng chiến, Phong trào nổi dậy ở các đô thị đã kịp thời trấn áp sự phản ứng điên cuồng của địch, góp phần phân hóa hàng ngũ địch, tạo điều kiện cho các đơn vị lực lượng vũ trang tiến vào giải phóng nội thị. Tại đô thành Sài Gòn - Gia Định nổi lên vai trò của Lực lượng thứ ba - một phong trào quy tụ nhiều gương mặt nhân sĩ, trí thức có tinh thần dân tộc, kiên trì đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc. Nhiều tướng lĩnh quân đội Sài Gòn khi đó vẫn kêu gào “tử thủ”; nhiều đơn vị vẫn ngoan cố chống cự một cách điên cuồng, không từ một thủ đoạn nào kể cả việc phá hoại cầu cống, hệ thống giao thông dẫn vào đô thị, các công trình trong nội đô... nhằm ngăn chặn các mũi tiến công thần tốc của Quân giải phóng vào sào huyệt cuối cùng của chúng; đồng thời lung lạc tinh thần của nhân dân đô thị, gây khó khăn cản trở cho Cách mạng khi vào tiếp quản thành phố. Trong bối cảnh đó, Phong trào đô thị ở Sài Gòn - Gia Định cùng với các lực lượng vũ trang Cách mạng ém sẵn trong nội đô như đặc công, biệt động đã kịp thời ngăn chặn các hành động điên rồ đó của địch; trấn áp, làm phân rã và cô lập chúng, đặc biệt là ngăn chặn kịp thời hành động điên cuồng của các phần tử cực hữu, phản động. Hoạt động của các phong trào đặc biệt là các Phong trào đô thị đã góp phần quan trọng cùng với năm mũi tiến công của quân chủ lực bảo vệ cho Sài Gòn - Gia Định, một thành phố tập trung các cơ quan đầu não của địch với hơn 3 triệu dân đã không bị tàn phá trong trận chiến cuối cùng.
        Trên mặt trận ngoại giao, tư tưởng về độc lập, tự do đã được Đảng ta sử dụng như một nền tảng để đấu tranh trên bàn đàm phán, dẫn đến Hiệp định Paris năm 1973, buộc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam.
        Ngay từ cuối năm 1965, Hội nghị Trung ương lần thứ 12 của Đảng tại Hà Nội đã bàn đến biện pháp đấu tranh chống lại cuộc “Chiến tranh cục bộ” của Đế quốc Mỹ. Kết thúc hội nghị, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã nêu lên vấn đề vừa đánh vừa đàm . Khi Mỹ phát động chiến lược “Chiến tranh cục bộ” thì vấn đề này đã được tính đến. Đến năm 1967, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đã lần đầu tiên đặt ra vấn đề bên cạnh đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự, Việt Nam cần phải đấu tranh ngoại giao, trong đó đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự có ý nghĩa quyết định, đấu tranh ngoại giao cũng có ý nghĩa rất to lớn. Lần đầu tiên trong văn kiện cao nhất của Đảng đã nhấn mạnh cần giữ tính độc lập.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Ảnh tư liệu

        Điều này được đúc rút từ Hiệp định Geneva năm 1954. Khi đó, giải pháp tạm thời chia cắt đất nước do một số nước lớn dàn xếp với nhau và áp đặt. Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và tương quan lực lượng lúc đó khiến chúng ta không có sự lựa chọn khác, đành chấp nhận giải phóng đất nước, đuổi quân Pháp đi, còn sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước nối tiếp sau.
        Đến Hội nghị Paris, chúng ta hoàn toàn độc lập, tự chủ trong mọi tính toán, chiến lược, sách lược và từng bước đi cụ thể. Chúng ta tự quyết định mọi chuyện, đấu tranh, bàn bạc trực tiếp với Mỹ chứ không qua trung gian nào. Chính điều đó là một nhân tố bảo đảm cho Hiệp định Paris phù hợp với lợi ích của ta. Đây là tư tưởng: “Không có gì quý hơn độc lộc tự do”, “Đem sức ta mà giải phóng cho ta” của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà trong các cuộc đàm phán ở Hiệp định Paris đã biểu hiện đầy đủ của tư tưởng đó.
        Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của nước ta trong cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao; là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
        Với tinh thần “ Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thực hiện tốt các nguyên tắc nên lập trường của ta trong các cuộc đàm phán là luôn khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; lên án tội ác chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam; đòi Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam; yêu cầu chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam của Mỹ… Chúng ta đã linh hoạt ứng xử trong các tình huống cụ thể nhưng không bao giờ từ bỏ các nguyên tắc đó và và cuối cùng chúng ta đã dành thắng lợi khi Hiệp định Paris chính thức được ký kết, tạo ra bước ngoặt lịch sử trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
        Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn có ý nghĩa to lớn đối với phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Nó cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
        Đưa chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trở thành kim chỉ nam cho quá trình đấu tranh bảo vệ vững chắc, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo Tổ quốc, công tác đối ngoại đã và đang hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
        Nhìn lại gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới và hướng tới chặng đường phát triển với tầm cao phía trước, thấy rõ những điều kiện mới, thời cơ và thuận lợi mới chen lẫn nhiều chông gai, khó khăn, thách thức.
        Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” sẽ tiếp tục là động lực to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đồng tâm nhất trí, triệu người như một kiên định, kiên trì đi trên con đường mà Bác Hồ đã lựa chọn, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.


Trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Ảnh internet



Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Ảnh internet



Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Ảnh internet