Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam, với sự tham gia của nhiều đơn vị và lực lượng. Trong đó, có 4 quân đoàn và một đơn vị tương đương quân đoàn đã đóng vai trò nòng cốt, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng.
Tháng 4-1975, cục diện chiến trường miền Nam có sự chuyển biến hết sức mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng. Sau hơn một tháng liên tục tiến công, nổi dậy mạnh mẽ, quân và dân ta giành thắng lợi to lớn trong các đòn chiến lược Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng; tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng của hai trên tổng số 4 quân khu-quân đoàn địch; chiếm giữ một khối lượng lớn vật chất, phương tiện chiến tranh; giải phóng hơn nửa đất đai và gần nửa dân số miền Nam. Lực lượng vũ trang (LLVT) cách mạng trưởng thành nhanh chóng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch trong cuộc họp Bộ Chính trị,
hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975.
Về phía địch, do chịu thất bại nặng nề, lâm vào tình thế khủng hoảng, khó khăn nghiêm trọng, chúng buộc phải lùi về phòng thủ từ thị xã Phan Rang (Ninh Thuận) trở vào Nam, kêu gọi Mỹ viện trợ khẩn cấp. Trước diễn biến tình hình phát triển thuận lợi, trong hai ngày 31-3 và 1-4-1975, Bộ chính trị họp bàn, bổ sung quyết tâm chiến lược, khẳng định: “Thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn-Gia Định đã chín muồi. Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm”. Riêng hướng Đông và Đông Nam Sài Gòn-Gia Định, Bộ chính trị đề ra yêu cầu cụ thể trước mắt: “Cần nhanh chóng tập trung lực lượng đánh chiếm những mục tiêu quan trọng, thực hiện bao vây, cô lập hoàn toàn Sài Gòn từ phía Long Khánh, Bà Rịa-Vũng Tàu”.
Ngày 8-4-1975, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương (QUTW) quyết định thành lập Bộ chỉ huy (BCH) Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định do đồng chí Đại tướng Văn Tiến Dũng-Ủy viên Bộ chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tư lệnh; đồng chí Phạm Hùng-Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam làm Chính ủy. Ngày 14-4-1975, thể theo nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ cả nước, Bộ chính trị đồng ý Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Từ mọi hướng, các cánh quân chủ lực tiến công vào Sài Gòn. Ảnh tư liệu.
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) cùng các LLVT, nhân dân địa phương trên địa bàn.
Theo kế hoạch tác chiến được BCH chiến dịch thông qua lần cuối (ngày 22-4-1975), đại quân ta nhanh chóng cơ động, hình thành thế bao vây tiến công Sài Gòn từ 5 hướng:
Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng): Đây là một trong những quân đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ tiến công trên hướng Bắc và Đông Bắc Sài Gòn.
Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang): Quân đoàn 2 đảm nhiệm hướng tiến công từ phía Đông và Đông Nam Sài Gòn.
Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên): Quân đoàn 3 tiến công từ hướng Tây và Tây Nam Sài Gòn, tạo thế bao vây và chia cắt lực lượng địch.
Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long): Quân đoàn 4 hoạt động trên hướng Nam và Đông Nam Sài Gòn, phối hợp với các lực lượng khác để tiêu diệt và làm tan rã quân địch.
Ngoài ra, còn có một đơn vị tương đương quân đoàn tham gia chiến dịch, đó là: Đoàn 232 (Binh đoàn Tây Nam): Đoàn 232, còn được gọi là Binh đoàn Tây Nam, có nhiệm vụ tiến công trên hướng Tây Nam Sài Gòn, hỗ trợ cho các quân đoàn khác trong việc bao vây và tiêu diệt địch.
Về cách đánh: Dùng một bộ phận lực lượng thích hợp tiêu diệt, làm tan rã tại chỗ các sư đoàn bộ binh chủ lực của địch phòng thủ vòng ngoài, không cho chúng rút chạy về Sài Gòn; sử dụng đại bộ phận lực lượng nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các binh đoàn đột kích theo các trục đường lớn, đánh thẳng vào 5 mục tiêu trong nội thành (bộ tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, dinh Độc Lập, bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, tổng nha cảnh sát).
Thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh không thể không kể đến những chiến công nổi bật của từng Quân đoàn, với sức mạnh áp đảo, các quân đoàn đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao, cụ thể
Quân đoàn 1:
Trên hướng bắc, Quân đoàn 1 tiến vào Sài Gòn theo hai hướng. Hướng tiến công chủ yếu và là hướng thọc sâu vào Sài Gòn do Sư đoàn 320B cùng các lực lượng binh chủng phối thuộc đảm nhiệm. Các lực lượng ở hướng này cắt đường 8 đánh địch trong hành tiến bằng cách đánh chiếm Lái Thiêu; chiếm cầu Bình Triệu, vượt sông Sài Gòn vào chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy, tiểu khu Gia Định, khu binh chủng và quận lỵ Gò Vấp.
Đội hình Quân đoàn 1 vượt đèo Hải Vân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 7/4/1975. Ảnh tư liệu
Hướng tiến công thứ hai do Sư đoàn 312 đảm nhận đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, chốt chặn đường 13, bao vây chia cắt và tiêu diệt Sư đoàn 5 ở bắc Bình Dương, cô lập Sư đoàn này không cho chúng co cụm về Sài Gòn, tạo điều kiện cho hướng thọc sâu của Sư đoàn 320B hoàn thành nhiệm vụ. Lực lượng dự bị của Quân đoàn là Trung đoàn 95A - một đơn vị vừa được Bộ Tư lệnh chiến dịch tăng cường cho cánh quân phía bắc.
Mờ sáng ngày 27-4 khi mà ở hướng đông và đông nam, Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 đã xung trận được hơn một đêm và đang quần thảo với địch ở Trảng Bom, Long Thành, Nước Trong..., thì trên hướng bắc, các lực lượng cũng đã vào vị trí tập kết và triển khai xong đội hình, sẵn sàng nổ súng. Lực lượng thọc sâu được chia làm hai mũi: Mũi ở hướng chủ yếu (gồm 301 xe các loại) do Trung đoàn 48 đảm nhiệm. Mũi ở hướng thứ yếu (gồm 50 xe các loại) do Trung đoàn 27 đảm nhiệm. Vấn đề khó khăn lớn nhất của Quân đoàn 1 lúc này là thiếu vũ khí và thiếu phương tiện cho lực lượng thọc sâu của Sư đoàn 320B. Tiểu đoàn vận tải ôtô được cấp trên tăng cường lúc này chưa vào tới nơi, kể cả đoàn xe chở vũ khí vào bổ sung cho Quân đoàn cũng "biệt vô âm tín". Trước tình hình đó, cũng có nhiều ý kiến băn khoăn là Tiểu đoàn ôtô 51 chưa đến, thiếu phương tiện chuyên chở cho lực lượng thọc sâu thì có nên tiến hành đánh mở đường 16 theo như kế hoạch đã định không? Băn khoăn là vậy, nhưng rồi đêm 27-4, trận đánh mở đường đó vẫn diễn ra bằng việc đánh chiếm Bình Cơ, Bình Mỹ để đưa toàn bộ đội hình sang phía tây đường 16 triển khai lực lượng theo hai hướng chia cắt và thọc sâu đúng như kế hoạch đã định.
Cho đến chiều ngày 27-4, địch tuy nắm rõ thông tin Quân đoàn 1 đang dồn quân ở phía bắc Sài Gòn nhưng chúng lại phán đoán sai địa điểm và cho rằng đối phương đang tập trung lực lượng triển khai ở các căn cứ Lai Khê - Phước Vĩnh.
15 giờ 30 phút ngày 27-4, trong khi tại Lai Khê, Sở Chỉ huy Sư đoàn 5 ngụy đang họp bàn triển khai gấp kế hoạch phòng thủ ở phía bắc Sài Gòn theo chỉ thị của tướng Nguyễn Văn Toàn - Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy thì toàn bộ tuyến phòng thủ vòng ngoài ở phía bắc Sài Gòn bất ngờ rung lên bởi những trận pháo kích cấp tập và dữ dội của Quân giải phóng. Cùng lúc, Trung đoàn 141 - Sư đoàn 312 và Tiểu đoàn 2 Phú Lợi - bộ đội địa phương nổ súng tiến công các cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ - mở đầu cho hoạt động cài thế chiến dịch của Quân đoàn 1 trên hướng bắc. Sau hơn một giờ chiến đấu ác liệt ta đã tiêu diệt phần lớn Tiểu đoàn bảo an 305 chốt giữ tại đây và đã khai thông đường 16, tạo điều kiện cho Sư đoàn 312 cùng các lực lượng phối thuộc lật cánh sang các trục đường 13 và 14, thực hành bao vây, chia cắt và cô lập Sư đoàn 5 ngụy.
Lữ đoàn Công binh 299 thuộc Quân đoàn 1 dùng phà đưa xe tăng vượt sông tham gia
Chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 2/4/1975. Ảnh Tư liệu
Sư đoàn 312 và Tiểu đoàn 2 Phú Lợi - bộ đội địa phương nổ súng tiến công các cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ - mở đầu cho hoạt động cài thế chiến dịch của Quân đoàn 1 trên hướng bắc. Sau hơn một giờ chiến đấu ác liệt, ta đã tiêu diệt phần lớn Tiểu đoàn bảo an 305 chốt giữ tại đây và đã khai thông đường 16, tạo điều kiện cho Sư đoàn 312 cùng các lực lượng phối thuộc lật cánh sang các trục đường 13 và 14, thực hành bao vây, chia cắt và cô lập Sư đoàn 5 nguỵ.
Đội hình thọc sâu của Sư đoàn 320B, trên đường tiến xuống Lái Thiêu đã phải bỏ qua hàng loạt mục tiêu dọc đường để giữ bí mật và bảo đảm yếu tốt thời gian của chiến dịch.
Trước khi bước vào thực hiện lệnh "tổng công kích trên toàt mặt trận" của Bộ Tư lệnh chiến dịch thì ở hướng bắc Sài Gòn, cá lực lượng của ta đã đánh chiếm được một số căn cứ quan trọng của địch án ngữ đường 16 từ Bình Mỹ về bắc Tân Uyên. Đến chiều ngày 28-4, đội hình tiến công của Quân đoàn 1 cơ bản đã vào vị trí chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị tổng công kích trên một chính diện rộng 13 km và chiều sâu lên tới hơn 70 km. 02 giờ sáng ngày 29-4, hơn 300 xe chở các lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 1 xuất kích, phát triển về hướng Lái Thiêu - Sài Gòn. Qua Chi khu quân sự Tân Uyên, một mục tiêu "nằm ngoài kế hoạch" nhưng do sự ngăn cản quyết liệt của quân địch ở ổ rất có thể làm chậm tốc độ tiến công của lực lượng thọc sâu nên Bộ Tư lệnh Quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 320B phải giải quyết dứt điểm mục tiêu quan trọng này. Trận đánh diễn ra ác liệt hơn cả dự kiến bởi Chi khu Tân Uyên mới được tăng cường phòng thủ rất mạnh; đặc biệt là có một hệ thống hào chống tăng và hàng rào bùng nhùng khá lợi hại. Phải mất 30 phút, Sư đoàn 320B mới dứt điểm mục tiêu quan trọng này. Tuy nhiên, 17 cán bộ, chiến sĩ của ta đã hy sinh và bị thương, 3 xe tăng, xe thiết giáp bị bắn cháy.
Lữ đoàn pháo binh 45 hành quân thần tốc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975.
Do phải giải quyết Chi khu quân sự Tân Uyên, hơn nữa đoạn đường từ Tân Uyên ra Khánh Vân lại dày đặc mìn và vật cản; có bãi mìn chống xe cơ giới chiều rộng 100 m và chiều sâu tới 200 m buộc các lực lượng thọc sâu phải vừa tiến vừa khắc phục mìn và vật cản nên đội hình bị dồn lại gây ùn tắc, vì vậy mà tốc độ hành quân chậm so với kế hoạch. Quán triệt chỉ thị của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn 320B xốc lại đội hình và triển khai hành tiến theo hại trục đường mới.
Đội hình Quân đoàn vượt ngầm An Bun tháng 4/1975.
Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 đánh chiếm sân bay Ông Lĩnh - Bình Chuẩn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Một trục đường do Trung đoàn bộ binh 27 và các đơn vị xe tăng, công binh, cao xạ..., từ Tân Uyên tiến theo đường 16 qua Bình Chuẩn xuống quận lỵ Lái Thiêu. Trục đường thứ hai do Trung đoàn bộ binh 48 và các đơn vị phối thuộc tiến theo con đường tắt qua sân bay Ông Lãnh xuống Bình Chuẩn - Búng rồi về Lái Thiêu. Việc lựa chọn hai trục đường hành tiến như trên cho các lực lượng thọc sâu là hoàn toàn đúng đắn bởi lẽ như vậy vừa hạn chế được thương vong, vừa tiết kiệm được thời gian do phải loay hoay khắc phục các bãi mìn và chướng ngại vật.
Với phương châm "gạt địch ra mà tiến", suốt quãng đường từ nam Tân Uyên về Lái Thiêu, các lực lượng thọc sâu đã gắng bỏ qua những muc tiêu nhỏ, lẻ, không thật cần thiết để chạy đua với thời gian. Tuy nhiên, trên quãng đường dài gần 60 km đó, họ vẫn phải vừa tiến, vừa tổ chức các lực lượng đánh tan rã các tiểu đoàn bảo an 321, 346, 317... của địch. Nhiều cuộc chạm trán ác liệt đã diễn ra ở Ngã ba Bình Chuẩn, Ngã ba Thuận Giáo, Búng, Tân Hiệp...
Chỉ sau một ngày đêm thực hành "tổng công kích", trên hướng bắc, Quân đoàn 1 đã phá vỡ về cơ bản tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở bắc Sài Gòn. Các tuyến đường 13, 14 đã bị Sư đoàn 312 chia cắt và phong tỏả; Sư đoàn 5 ngụy hoàn toàn bị bao vây cô lập, không những không về ứng cứu được cho Sài Gòn mà bản thân các đơn vị trong Sư đoàn này cũng không thể ứng cứu, chi viện được cho nhau.
Căn cứ Phú Lợi có diện tích 320.000 m2 được cấu tạo bởi những lô cốt bê tông, cái nọ cách cái kia chừng 100-150 m và được liên kết với nhau bằng hệ thống giao thông hào. Xung quanh căn cứ có hệ thống hào chống tăng, 8-10 hàng rào dây thép gai và các bãi mìn hỗn hợp. Căn cứ Phú Lợi có 500 quân đồn trú và một đại đội pháo 105 ly. Cuối tháng 4, để tăng cường cho tuyến phòng thủ cứng ở hướng bắc Sài Gòn, địch đã tăng cường cho căn cứ Phú Lợi 1 tiểu đoàn bộ binh và một chi đoàn thiết giáp (22 chiếc), chưa kể hàng trăm tên tàn quân từ Bình Mỹ, Tân Uyên chạy về đây.
Trong số các căn cứ của tuyến phòng thủ mà địch lập nên ở bắc Sài Gòn thì căn cứ Phú Lợi thuộc loại mạnh nhất và xét về mặt vị trí cũng thuộc loại quan trọng nhất bởi nó án ngữ trục đường từ Tân Uyên xuống Bình Dương qua Củ Chi. Từ đây có thể khống chế các con đường 13, 14, 8 và cả tuyến đường sông về Sài Gòn.
05 giờ sáng ngày 30-4, dưới sự kiềm chế của hỏa lực pháo binh, Trung đoàn 165 - Sư đoàn 312 cùng với các lực lượng vũ trang địa phương nổ súng tiến công căn cứ Phú Lợi. Trước đó, khi các lực lượng cơ động vào chiếm lĩnh trận địa liền bị pháo địch bắn dữ dội vào đội hình, gây một số thiệt hại về người và vũ khí. Mặc dù địch tập trung xe tăng ra ngăn chặn quyết liệt nhưng sau hơn hai tiếng đồng hồ, Tiểu đoàn 6 đã khai thông được cửa mở để các lực lượng phát triển tiến công vào trung tâm căn cứ. Sau khi làm chủ hoàn toàn căn cứ Phú Lợi, Trung đoàn 165 tiếp tục cùng các tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi 1 và Phú Lợi 2 phát triển sang hướng đông nam đánh chiếm Dinh Tỉnh trưởng Bình Dương, căn cứ giang đoàn Bạch Đằng và Trường Sĩ quan Công binh.
Trong khi Sư đoàn 5 ngụy đang bị vây hãm trong tình cảnh "cá nằm trên thớt" ở căn cứ Lai Khê và binh lính địch ở quận ly. Lái Thiêu đang trong tình trạng thấp thỏm lo âu, chờ một trận kịch chiến thì ở hướng thọc sâu của Quân đoàn 1, Sư đoàn 320B được lệnh lẳng lặng tăng tốc độ tiến công vào Sài Gòn. Đội hình thọc sâu triển khai tiến công theo hai hướng. Một hướng do Trung đoàn 27 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và Chính ủy Trịnh Văn Thư từ Tân Uyên, Tân Ba tiến xuống đánh chiếm quận lỵ Lái Thiêu. Hướng còn lại do Trung đoàn 48 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng và Chính ủy Lê Xuân Yên tiến từ Khánh Vân, Búng xuống Lái Thiêu.
Trong đội hình thọc sâu của Quân đoàn 1 thì Trung đoàn 48 là lực lượng thọc sâu chủ yếu vì vậy mà phương châm của Trung đoàn này là cố gắng hạn chế "dây dưa" với địch ở ngoại vi, hành tiến càng nhanh càng tốt để nhằm mục tiêu chính trong nội đô là Bộ Tổng Tham mưu ngụy.
Sư đoàn 320B tiến công tiêu diệt địch ở trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương. Ảnh tư liệu
03 giờ sáng ngày 30-4-1975, ở hướng phát triển tiến công của Trung đoàn 27, các lực lượng đã tập kết áp sát Lái Thiêu và bắt đầu triển khai đội hình chuẩn bị tiến công căn cứ này.
04 giờ 15 phút ngày 30-4-1975, một trận đánh quyết liệt kéo dài gần hai tiếng đồng hồ để mở "cánh cửa" Lái Thiêu đã diễn ra. Không giống như cách đánh một số trận trước đó, để tiến công căn cứ Lái Thiêu, Trung đoàn 27 không "bóc" lần lượt từ ngoài vào trong mà tập trung binh lực kết hợp với lực lượng luồn sâu ém sẵn và thọc sâu bằng cơ giới cùng một lúc từ hai hướng: bắc xuống và nam lên. Mũi luồn sâu của Tiểu đoàn 5 từ hướng nam chiếm cầu Lái Thiêu rồi phát triển tiến công đánh chiếm Trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương. Trên hướng bắc, mũi thọc sâu cơ giới của Tiểu đoàn 6 tiến công quân địch trên đường 13 (đoạn từ Lái Thiêu đến cầu Văn Bình). Bằng cách đánh trên, với sự phối hợp chặt chẽ của các lực ượng tại chỗ Bình Dương, Trung đoàn 27 đã nhanh chóng đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự vỏ cứng của Chi khu quân sự Lái Thiêu, mở toang cánh cửa cho lực lượng thọc sâu thẳng tiến vào nội đô Sài Gòn.
Lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 1 vượt đường 16 tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Ảnh tư liệu Bảo tàng Binh đoàn Quyết thắng
Mặc dù có lực lượng đông, trang bị mạnh lại được bảo vệ bởi một hệ thống công sự kiên cố, hệ thống hàng rào dây thép gai dày đặc và đa dạng nhưng trước đòn thọc sâu chia cắt hiểm của Trung đoàn 27 nên cả một chi khu quân sự rộng lơn và liên hoàn như vậy đã bị băm nhỏ và nhanh chóng bị chia cắt cô lập.
Chỉ chưa đầy hai tiếng đồng hồ, căn cứ quân sự Lái Thiêu đã bị san hẳng hoàn toàn. Trước cửa ngõ Sài Gòn, hiếm có hình ảnh nào bi hài hơn hình ảnh gần 2.000 binh lính ngụy do chính Trung tá Nguyễn Văn Hinh - Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương dẫn đầu kéo nhau lũ lượt ra hàng. Dư âm trận đánh này còn mãi trong ký ức của những người tắng trận lẫn những kẻ bại trận. Một số tù binh của địch về sau này vẫn không thể lý giải được tại sao đối phương lại có thể chọn một cách đánh táo bạo, kết hợp chặt chẽ giữa luồn sâu chia cắt với thọc sâu bằng cơ giới đối với một mục tiêu "trận đồ bát quái" như Chi khu quân sự Lái Thiêu trong khi lực lượng Quân đoàn 1 là một đơn vị "mới chân ướt chân ráo" từ xa đến.
Việc Trung đoàn 27 làm chủ hoàn toàn quận lỵ Lái Thiêu đồng nghĩa với việc đã mở toang cánh cửa phía bắc Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 48 - lực lượng thọc sâu chủ yếu của Sư đoàn 320B đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy. Sau khi làm chủ quận lỵ Lái Thiêu, Trung đoàn 27 để Tiểu đoàn 5 ở lại, còn toàn bộ Trung đoàn được tăng cường Đại đội 3 xe tăng tiếp tục phát triển tiến công về phía bắc cầu Bình Phước, tiến đánh Bộ Tư lệnh các binh chủng ngụy.
Rạng sáng ngày 30-4, khi Trung đoàn 27 tiến đến phía bắc cầu Vĩnh Bình khoảng 01 km thì gặp địch ngăn chặn quyết liệt. Lúc này chúng đã thiết lập được một tuyến phòng thủ hỗn hợp và dày đặc ở phía nam cầu. Tại đây đã diễn ra một cuộc đối đầu quyết liệt giữa xe tăng của Đại đội 3 - Lữ đoàn 202 với khoảng 30 xe tăng, thiết giáp của địch. Chiếc xe K63-85 đi đầu đội hình bị bốc cháy làm cho mũi đột kích bị chững lại. Được sự phối hợp, tăng cường lực lượng kịp thời của Trung đoàn 27, Đại đội trưởng xe tăng Hoàng Thọ Mạc đã chỉ huy đơn vị xốc lại đội hình, chia làm hai mũi lao thẳng vào đội hình xe tăng, thiết giáp của địch. Mũi tiến công chính diện trên đường 13 do Hoàng Thọ Mạc chỉ huy "tả xung, hữu đột" bắn cháy liền một lúc 3 xe M48 của địch, đồng thời dùng hỏa lực chế áp, yểm trợ cho Đại đội 10 của Trung đoàn 27 thọc sâu vào bên sườn đội hình, bắn cháy 10 xe tăng của địch. Đội hình phản kích bằng xe tăng của địch rối loạn và tan vỡ.
Càng tiến gần đến mố bắc cầu Vĩnh Bình, xe tăng và bộ binh của ta càng bị địch chống trả quyết liệt. Chúng đã tung lực lượng mạnh nhất, dựa vào hệ thống công sự kiên cố, các loại thùng phi dã chiến mới được dựng lên để ngăn chặn lực lượng đánh chiếm cầu. Lợi dụng lúc đội hình của ta chững lại để khắc phục vật cản, địch lại tập trung xe tăng và pháo tự hành phóng ra phản kích điên cuồng. Đặc biệt nguy hiểm là chúng dùng mọi cách để phá sập cầu Vĩnh Bình, ngăn không cho ta vượt sông.
Phát hiện ra ý đồ nham hiểm của địch, nếu không ngăn chặn kịp thời lực lượng thọc sâu của Quân đoàn khó mà thực hiện được kế hoạch. Trong giây lát, chiếc xe chỉ huy 454 của Hoàng Thọ Mạc lao lên phía trước chỉ điểm mục tiêu cho xe 956 ở phía sau "khóa họng" khẩu "vua chiến trường" 175 mm của địch. Lợi dụng đội hình địch rối loạn, Đại đội 10 bộ binh chia làm nhiều mũi chớp thời cơ đánh thẳng vào trận địa phòng ngự của địch, đẩy chúng về mố cầu phía nam. Lúc này, một tình huống mới nằm ngoài dự kiến đã xuất hiện. Đó là tàn quân từ quận lỵ Lái Thiêu sau khi định thần rút chạy về Sài Gòn cũng đã đến ngay sau lưng đội hình Trung đoàn 27 đang đánh chiếm cầu Vĩnh Bình. Vô hình chung, Đại đội 3 xe tăng của Lữ đoàn 202 và Đại đội 10 bộ binh của Trung đoàn 27 bị kẹp vào giữa. Địch ở phía trước tìm mọi cách xông ra, còn ở phía sau tìm cách ép lại để mở đường chạy về Sài Gòn. Vấn đề đặt ra lúc này là phải tìm mọi cách nhanh chóng đánh chiếm bằng được cầu Vĩnh Bình. Cái khó lúc này là cự ly giữa ta và địch đã quá gần, hỏa lực bắn thẳng của xe tăng bị hạn chế. Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc đã quyết định nhảy ra khỏi xe chỉ huy tổ mũi nhọn bao gồm các chiến sỹ: Khoẻ, Mộc, Hạnh, Ngọ, Bằng, Mừng, Chuẩn, dung súng bộ binh lao lên đánh chiếm đầu cầu.
Cuộc chiến đấu giành giật cầu Vĩnh Bình diễn ra vô cùng ác. Địch chống cự điên cuồng trong cơn tuyệt vọng. Đồng chí Hoàng Thọ Mạc bị thương nặng nhưng anh vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh ciếm bằng được cầu Vĩnh Bình và cuối cùng đã hy sinh bằng một hành động quả cảm - lấy thân mình che đạn cho đồng đội Hoàng Văn Khoẻ.
Tấm gương anh dũng hy sinh của đồng chí Hoàng Thọ Mạc và Hoàng Văn Khoẻ như một liều thuốc tinh thần xốc đội hình Đại đội 3 xe tăng và Đại đội 10 bộ binh ào ạt xông lên đánh chiếm cầu, buộc quân địch ở bờ nam phải bỏ cả xe, cả pháo tháo chạy.
08 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, sau khi làm chủ hoàn toàn cầu Vĩnh Linh, Trung đoàn 27 khẩn trương xốc lại đội hình rồi thông qua tù binh dẫn đường nhanh chóng cơ động đến cầu Bình Phước, tiến đánh Bộ Tư lệnh các binh chủng ngụy.
Sau khi quận lỵ Lái Thiêu và đoạn đường từ Lái Thiêu vào Sài Gòn bị Trung đoàn 27 làm chủ, các chốt chặn ở Gò Dừa và Ngã tư Bình Phước bị Trung đoàn 49 tiêu diệt, địch đã cho phá hỏng cầu Bình Lợi hòng ngăn chặn đường tiến vào
Sài Gòn từ hướng bắc. Chúng dồn lực lượng của Lữ đoàn kỵ binh 3 từ Biên Hòà rút về cùng với hai đại đội của Sư đoàn 18 và đám tàn quân dù, lính thuỷ đánh bộ, biệt động quân... lập tuyến phòng thủ mới từ ấp Mai Liên đến cầu Bình Triệu.
Cũng như trên các hướng của chiến dịch, cuộc tiến công của lực lượng thọc sâu càng vào tới gần thành phố càng vấp phải hệ thống phòng thủ dày đặc và càng bị địch chống trả quyết liệt trong cơn tuyệt vọng. Khi đội hình thọc sâu của Trung đoàn 48 phát triển gần đến khu vực ấp Mai Liên thì gặp bộ binh và xe tăng địch ra ngăn chặn quyết liệt. Một lực lượng của Tiểu đoàn 2 dừng lại giải quyết mục tiêu này, một bộ phận khác (Tiểu đoàn 3) cơ động cắt đoạn đường 1 nối Thủ Đức và Bình Lợi, còn đội hình thọc sâu nhanh chóng phát triển qua cầu Ông Đen, đánh thẳng vào trận địa phòng ngự của địch ở ấp Bình Triệu.
Trên đoạn đường từ ấp Mai Liên đến ấp Bình Triệu địch đã kịp tổ chức nhiều cụm hoa lực để ngăn chặn bước tiến của ta. Chúng điều hàng chục chiếc xe tăng, xe thiết giáp ra lập chốt chặn ở Ngã tư xa lộ Đại Hàn, đồng thời co cụm lực lượng, lập tuyến phòng thủ mới từ nam cầu Ông Đen đến bắc cầu Bình Triệu. Trong kế hoạch co cụm, tử thủ ở cầu Bình Triệu, địch không loại trừ khả năng phá cầu. Sở dĩ chúng không kịp làm điều đó một phần do có sự "lót sẵn" của lực lượng đặc công, nhưng nguyên nhân chính là do chúng đã không kịp ra tay trước sức tiến công áp đảo của Quân giải phóng. Phần lớn địch ở đây đã bị bức hàng mà không kịp tháo chạy và cũng không kịp phá cầu như kế hoạch vạch ra trước đó.
Trở lại với trận đánh ác liệt ở cầu Bình Triệu. Do quân địch triệt để lợi dụng hệ thống lô cốt bằng bê tông và bao cát, biết phát huy tối đa hỏa lực của tăng, thiết giáp nên mũi tiến công của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 và cụm quân địch phòng ngự phía bắc cầu bị khựng lại, không phát triển được. Một số bộ đội ta bị thương vong, trong đó có Chính trị viên phó Tiểu đoàn bị thương nặng. Nếu cứ giằng co với địch ở đây lâu, lực lượng sẽ bị tiêu hao nhưng quan trọng hơn là tốc độ thọc sâu sẽ bị chậm lại. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới nhiệm vụ thọc sâu của cánh quân hướng bắc mà còn ảnh hưởng tới kế hoạch hiệp đồng chiến dịch.
Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng đã có một quyết định táo bạo - đó là sau khi cho xe tăng, thiết giáp thọc ngang qua đội hình phòng ngự của địch, đồng chí đã lệnh cho lực lượng bộ binh của Tiểu đoàn 2 xuống xe, nhanh chóng hình thành ba mũi tiến công. Một mũi cơ động vòng phía tây đường 13 đột kích thẳng vào giữa đội hình địch. Mũi thứ hai vòng sang phía đông chọc vào sườn. Mùi thứ ba đánh vỗ mặt vào chính diện đội hình. Cả ba mũi cùng đánh đột phá nhanh với mục đích đánh bật địch ra mà chiếm cầu, mở đường tiến vào nội đô. Một quyết định có phần mạo hiểm nhưng như Trung đoàn trưởng Đoàn Trưng sau này cho biết, đồng chí rất tin tưởng quân của mình - những cán bộ, chiến sĩ đã từng được thử lửa qua 81 ngày đêm ở Quảng Trị. Hào khí của mùa hè đỏ lửa năm 1972 một lần nữa lại tỏả sáng trong trận đánh cầu Bình Triệu. Biết là có thể ngã xuống ngay trước ngày toàn thắng nhưng các cán bộ, chiến sĩ đã không một chút do dự, xung phong vào đội cảm tử đột phá, nhiều người bị thương vẫn không rời trận địa.
Trận đánh chiếm cầu Bình Triệu là trận đánh hiệp đồng binh chủng khá thành công. Hỏa lực pháo binh của Quân đoàn chi viện đúng lúc, kịp thời và có hiệu quả. Lực lượng tăng, thiết giáp chế áp thành công các cụm hỏa lực của địch, tạo điều kiện và hỗ trợ cho bộ binh đột phá. Các chiến sĩ bộ binh sau khi nhảy xuống khỏi xe tăng đã dũng cảm dùng B40-B1 tiêu diệt xe tăng, dùng tiểu liên áp đảo bộ binh địch, dồn chúng chạy từ chốt này qua chốt khác trong tình cảnh hỗn loạn.
Đội hình Quân đoàn tiến công cổng số 1 Bộ Tổng tham mưu chính quyền Sài Gòn ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu
Đội hình Quân đoàn tiến công cổng số 2 Bộ Tổng tham mưu chính quyền Sài Gòn ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu
08 giờ ngày 30-4, toàn bộ lực lượng quân địch phòng thủ ở bắc cầu Bình Triệu đã buộc phải hạ vũ khí đầu hàng. Ta thu được 144 xe tăng, thiết giáp và chiến xa. Hơn 1.500 quân địch bị bức hàng. Cầu Bình Triệu vẫn nguyên vẹn. Trung đoàn 48 lấy 8 xe tăng vừa thu được của địch, bắt lính ngụy lái dẫn đường, nhanh chóng vượt qua cầu Bình Triệu tiến vào đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy.
Lữ đoàn xe tăng 202 phối hợp cùng Sư đoàn 320B,
đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Ảnh tài liệu
Trước sức tiến công áp đảo của ta, sĩ quan, binh lính địch phải cởi bỏ quân phục, vứt súng chạy tháo thân. Đồng chí Đoàn Trưng, Trung đoàn trưởng và đồng chí Lê Xuân Yến, Chính ủy Trung đoàn 48 tiến vào phòng làm việc của Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân ngụy Sài Gòn thu hồi ấn, kiếm cùng nhiều tài liệu quan trọng khác. Tổ cắm cờ gồm 3 đồng chí của Trung đoàn 48: Lại Đức Lưu, Hoàng Xuân Tiến, Nguyễn Văn Đông, do đồng chí Lại Đức Lưu chỉ huy nhanh chóng vận động lên cắm cờ giải phóng trên nóc nhà trụ sở Bộ Tổng Tham mưu ngụy trong tiếng reo hò của cán bộ, chiến sĩ. Lúc đó, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Sau khi đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy, BTL Quân đoàn ra lệnh cho các đơn vị tiếp tục đánh chiếm các mục tiêu đã được phân công. Đến 16 giờ ngày 30-4-1975, các hướng chiến đấu của Quân đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Có thể khẳng định rằng, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Quân đoàn 1 vừa thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa - hậu phương chiến lược của cả nước, vừa chủ động khắc phục những khó khăn to lớn về cơ động, về hậu cần - kỹ thuật và chuẩn bị chiến trường, đã tổ chức cuộc hành quân “thần tốc” chưa từng có trong lịch sử quân đội ta từ Bắc vào Nam chỉ trong 11 ngày đêm đã vượt chặng đường dài hơn 1.700 km, kịp thời vào trực tiếp tham gia chiến đấu trên hướng Bắc Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhạy bén với tình hình, biết chủ động nắm và chớp thời cơ, hạ quyết tâm chính xác, vận dụng sáng tạo cách đánh, nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng, phù hợp với thực tiễn chiến trường, với lối đánh “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, Quân đoàn đã kiên quyết tiến công, táo bạo bất ngờ đánh chiếm những mục tiêu quan trọng có tính chiến lược trong hệ thống phòng thủ của địch trên hướng Bắc Sài Gòn; tiêu diệt và bức hàng hoàn toàn Sư đoàn 5 ngụy giải phóng tỉnh Bình Dương; táo bạo thọc sâu đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu - cơ quan đầu não của Quân nguỵ Sài Gòn, Quận lỵ Gò Vấp, Tiểu khu Gia Định, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng nên truyền thống vẻ vang “Thần tốc - Quyết thắng” của Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng anh hùng.
Quân đoàn 2:
Quân đoàn 2 có vinh dự được cùng với quân và dân cả nước tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, nhạy bén nắm bắt thời cơ, hành động táo bạo, thần tốc, vận dụng cách đánh sáng tạo, Quân đoàn 2 đã cùng với quân và dân Trị - Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng chỉ trong thời gian ngắn từ ngày 08 đến ngày 30-3- 1975, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 1, Quân khu I ngụy, giải phóng hoàn toàn hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, hai thành phố lớn Huế và Đà Nẵng. Cùng với chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng Huế - Đà Nẵng đã làm lệch hẳn cán cân so sánh lực lượng về mặt chiến lược, làm cho ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn suy yếu nghiêm trọng, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng áp đảo trong trận quyết chiến cuối cùng.
Quân đoàn 2 cùng bộ đội địa phương đánh chiếm thành phố Huế. Ảnh tư liệu.
Ngày 1-4-1975, Quân đoàn được lệnh chuẩn bị cho Sư đoàn 325 và Lữ đoàn xe tăng 203 sẵn sàng tăng cường cho các đơn vị bạn vào chiến đấu giải phóng Sài Gòn, còn các đơn vị khác của Quân đoàn ở lại Đà Nẵng làm lực lượng dự bị. Quân đoàn đã khẩn trương chuẩn bị cho hai đơn vị vào tham gia chiến dịch. Đồng thời, từ nhận thức về thời cơ lịch sử và thể theo nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã đề nghị với Bộ cho cả Quân đoàn được tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn.
Ngày 5-4-1975, Bộ Tổng Tư lệnh đồng ý cho cả Quân đoàn vào tham gia chiến dịch. Quân ủy Trung ương chỉ thị cho cả Quân đoàn phải "nêu cao hơn nữa tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu dũng cảm, đạp bằng mọi khó khăn trở ngại, cơ động nhanh, đột kích mạnh, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc"
Với nhận định, sau khi giải phóng Đã Nẵng, ta phải mất hai, ba tháng nữa mới điều quân được vào Nam Bộ, địch hy vọng sẽ có đủ thời gian để bố trí lại lực lượng và triển khai tuyến phòng thủ, ngăn chặn cuộc tiến công của ta. Tổng thống nguỵ Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ hò hét: "Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ từ Ninh Thuận trở vào. Nếu cần sẽ đem hết lực lượng đánh xả láng ở đó".
Quân đoàn 2 cùng các đơn vị đánh chiếm Phan Rang. Ảnh tư liệu.
Như vậy, trên đường hành quân vào vị trí tập kết chiến dịch, Quân đoàn sẽ phải tiến hành đột phá tuyến phòng thủ của địch với chiều sâu hàng trăm kilômét từ Phan Rang, Phan Thiết đến Hàm Tân do Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 3 dù, Liên đoàn 2 biệt động quân, Sư đoàn 6 không quân và hàng chục tiểu đoàn địa phương địch đóng giữ. Ngoài ra, còn số tàn quân từ Huế - Đà Nẵng chạy vào đang tụ tập tại các thị trấn, thị xã dọc đường. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã xác định quyết tâm:
Gấp rút tổ chức hành quân. Phần lớn lực lượng Quân đoàn hành quân theo trục đường 1, đánh địch trên đường hành quân, nhanh chóng đưa toàn bộ đội hình Quân đoàn vào vị trí tập kết đúng thời gian quy định..
Đánh địch trong hành tiến, phối hợp với các địa phương tiêu diệt các lực lượng địch phòng ngự từ Phan Rang trở vào, sẵn sàng đánh địch ngoài dự kiến. Dùng sức mạnh hiệp đông binh chủng đột phá, nhanh chóng tiêu diệt và làm tan rã địch, bảo đảm tốc độ hành quân nhanh.
Tổ chức đội hình đột phá trong hành tiến, tạo thành một "mũi dùi thép", có sức đột kích mạnh, sức cơ động cao, đội hình đồng bộ, vừa chiến đấu vừa bảo đảm chiến đấu, có lực lượng tiếp sau phát triển tiến công, vừa hành quân vừa chiến đấu.
Tư tưởng chỉ đạo: thần tốc - táo bạo - nhanh - mạnh - chắc. Lúc này thời gian trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh.
Toàn Quân đoàn sẵn sàng đánh địch mà đi, mở đường mà tiến. Lực lượng hành quân lúc này đông tới trên 32.000 người, 2.376 xe các loại, trong đó có gần 100 xe tăng, thiết giáp, gần 100 khẩu pháo từ 85 đến 155 ly, hơn 100 khẩu cao xạ từ 23 đến 57 ly. Đội hình hành quân được tổ chức thành nhiều khối theo nguyên tắc chiến đấu binh chủng hợp thành, có đủ thành phần bộ binh, xe tăng, thiết giáp, cao xạ, pháo binh, mỗi khối thành một đơn vị chiến đấu cơ bản, đồng bộ, bảo đảm chỉ huy thống nhất, hiệp đồng chặt chẽ, đủ sức đánh thắng địch trong mọi tình huống, đồng thời tự khắc phục được mọi chướng ngại dọc đường. Riêng khối đi đầu có nhiệm vụ tiêu diệt các cụm quân địch phòng ngự mở đường, nên được tăng cường xe tăng, thiết giáp, pháo binh, cao xạ và phần lớn Lữ đoàn công binh 219 để đủ sức mạnh đột phá nhanh, giải quyết chiến đấu nhanh.
Ngày 7-4, Quân đoàn xuất phát. Ngày 13-4, khối 1 và Sở Chỉ huy Quân đoàn đến bắc Cam Ranh, Quân đoàn được lệnh tổ chức lực lượng phối hợp với Sư đoàn bộ binh 3 (Khu V) đánh chiếm Phan Rang, tiếp tục tiến công theo trục đường 1.
05 giờ ngày 15-4, ta nổ súng tiến công. Địch chống trả quyết liệt. Ta tiến công trong hành tiến, tập trung ưu thế binh, hỏa lực trên hướng chủ yếu, hình thành thế bao vây vu hồi, đột phá mạnh, nhanh chóng thọc sâu chia cắt tiêu diệt địch. Phối hợp chặt chẽ chủ lực với lực lượng địa phương, sau 7 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng địch ở Phan Rang, bắt Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 nguỵ, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, thu nhiều vũ khí, trang bị trong đó có gần 40 máy bay còn nguyên vẹn.
Chiến thắng Phan Rang là một trận thắng bằng sức mạnh liệp đồng binh chủng trong hành tiến tiến công địch mới chuyển vào phòng ngự. Ta đã đập tan "lá chắn thép", niềm hy vọng lớn của tịch ngăn chặn ta từ xa nhằm bảo vệ Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của chúng.
Xe tăng Quân Giải phóng tiến chiếm cơ quan
chính quyền tỉnh Ninh Thuận. Ảnh tư liệu
Ngày 16-4, Quân ủy Trung ương gửi điện khen và nhắc nhở Quân đoàn: "Phải nhanh chóng truy kích địch, phát triển tiến công thần tốc, táo bạo, bất ngờ, quyết giành thắng lợi mới, khẩn trương củng cố lực lượng, tiếp tục hành quân chiến đấu, đến nhận nhiệm vụ đúng thời gian".
Nhân đà ta vừa chiến thắng và địch đang rệu rã lớn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định nhanh chóng đánh chiếm thị xã Phan Thiết với hướng tiến công chủ yếu theo quốc lộ 1, cách đánh chủ yếu là đột phá trong hành tiến. 19 giờ ngày 18- 4, ta nổ súng tiến công, đến 21 giờ đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch, làm chủ thị xã Phan Thiết.
Ngày 21-4, đội hình hành quân của Quân đoàn đã đến đông Xuân Lộc 15 km. Theo yêu cầu của Tỉnh uỷ Bình Tuy và được lệnh của Bộ, Quân đoàn tổ chức một lực lượng quay ngoặt lại đánh chiếm Hàm Tân. 19 giờ ngày 22-4, ta nổ súng tiến công, 23 giờ ta làm chủ thị xã Hàm Tân, tiêu diệt và làm tan rã khoảng 5.000 tên địch.
Qua 17 ngày đêm vừa hành quân, vừa đánh với tốc độ trung bình 100 km/ngày khi không có tác chiến dọc đường, và đạt trung bình 40 km/ngày khi tiến công trong hành tiến, lúc 3 giờ ngày 24-4, toàn bộ đội hình Quân đoàn đã vào vị trí tập kết chiến dịch đúng thời gian, với đủ vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu được ngay.
Với thắng lợi của cuộc hành quân thần tốc, đột phá mở đường vào phía nam, tiến công tiêu diệt và đập tan tổ chức phòng ngự của địch ở Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, Quân đoàn đã góp phần quan trọng làm thất bại biện pháp chiến lược phòng ngự từ xa của địch ở hướng đông bắc Sài Gòn, giải phóng con đường chiến lược số một và ven biển miền Trung, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến trường trọng điểm trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.
Sự có mặt của Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã tăng thêm một lực lượng quan trọng trên một hướng chiến lược rất hiểm yếu đối với địch, cùng với các đơn vị bạn gây nên sức ép mới, tạo ra so sánh lực lượng có lợi cho ta cả về thế và lực ở khu vực Sài Gòn - Gia Định.
Sau khi mất Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, địch chủ trương co cụm quanh Sài Gòn, ngăn chặn ta từng bước để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, cải thiện thế phòng thủ, cố giữ phần đất còn lại.
Trên hướng tiến công của Quân đoàn, địch có 4 trung đoàn bộ binh, Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến 468, 2 lữ đoàn dù 1 và 2, Liên đoàn biệt động 33, 18 tiểu đoàn bảo an, 2 chiến đoàn 314, 318, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo binh. Ngoài ra, còn có lực lượng của các cơ quan, nhà trường và trung tâm huấn luyện của chúng.
Nhìn chung, địch đã hình thành được thế phòng thủ, lợi dụng được địa hình có lợi, dựa vào các chi khu, các căn cứ lớn tổ chức thành các tuyến, các khu vực phòng ngự có công sự vững chắc, có hệ thống hoa lực và vật cản được chuẩn bị, tạo thành thế liên hoàn hỗ trợ cho nhau. Quân địch còn đông, lực lượng tề điệp ác ôn, phản động còn nhiều và địch sẽ ngoan cố chống cự vì đây là sào huyệt cuối cùng của chúng.
Mặt yếu cơ bản của địch là đang dao động về tinh thần, rệu rã về tổ chức, lực lượng chủ lực cơ động hầu hết đã bị đánh bại chưa kịp củng cố, lại phải đối phó với nhiều hướng tiến công của ta, lực lượng căng mỏng, không đủ sức để phản kích lớn.
Địa bàn tác chiến của Quân đoàn là địa hình đồng bằng có các thị trấn và thành phố lớn. Mạng đường sá khá phát triển, tiện cơ ng cho xe cơ giới các loại. Sông ngòi, kênh rạch, cầu cống nhiều, những cầu lớn như cầu Xa Lộ, cầu Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn, cầu Mây được địch tăng cường bảo vệ và chúng đã có kế hoạch phá ngăn chặn bước tiến của ta. Hướng Cát Hải có sông Nhà Bè rộng 700 m và căn cứ hải quân Cát Lái.
Ngày 22 - 4, Quân đoàn được giao nhiệm vụ phối hợp với đặc công và Quân đoàn 4 đảm nhiệm tiến công trên một hướng quan trọng của chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ trước mắt của Quân đoàn: đánh chiếm căn cứ Nước Trong, Chi khu Long Thành, căn cứ Long Bình, cầu Xa Lộ, Chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, bến phà Cát Lái, Chi khu Đức Thạnh, thị xã Bà Rịa, Vũng Tàu. Nhiệm vụ tiếp theo: tiêu diệt địch ở hữu ngạn sông Đồng Nai, đánh chiếm quận 4, quận 9 Sài Gòn. Sau đó, tuỳ tình hình có thể tiếp tục phát triển tiến công về đồng bằng khi có lệnh. Quá trình phát triển chiến đấu, Bộ giao thêm nhiệm vụ dùng pháo binh đánh sân bay Tân Sơn Nhất.
Quân Giải phóng đánh chiếm trường Thiết giáp của địch tại căn cứ Nước Trong. Ảnh tư liệu
Quyết tâm của Bộ Tư lệnh Quân đoàn là: "Tập trung sức mạnh hiệp đồng binh chủng, nhanh chóng đập tan hệ thống phòng ngự vành ngoài của địch, tạo thời cơ thọc sâu chiến dịch, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Bộ giao".
Đội hình của Quân đoàn thành một thê đội, có binh đoàn hỗn hợp thọc sâu chiến dịch và đội dự bị binh chủng hợp thành. Tư tưởng chỉ Tư tưởng chỉ đạo tác chiến: mạnh - nhanh - chắc. Cách đánh: tập trung lực lượng tạo thành sức đột kích mạnh chọc thủng tuyến phòng ngự địch ở nơi hiểm yếu, kết hợp chặt chẽ giữa đột phá chính diện với bao vây, vu hồi chia cắt chiến dịch, không để địch rút chạy hoặc co cụm, sau khi đột phá mở cửa, nhanh chóng thực hành thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô bằng tiến công trong hành tiến.
Khi Quân đoàn đã đánh chiếm cầu Xa Lộ và căn cứ hải quân Cát Lái, để kịp thời hiệp đồng với các đơn vị bạn, binh đoàn thọc sâu có nhiệm vụ nhanh chóng tiến công theo trục Xa Lộ vào nội đô Sài Gòn, đánh chiếm các mục tiêu quy định.
Nếu chấp hành đúng thời gian quy định của chiến dịch nổ súng tổng công kích vào nội đô Sài Gòn ngày 29-4-1975 thì Quân đoàn khó có thể vào Sài Gòn kịp thời gian, vì trên hướng tiến công của Quân đoàn có nhiều căn cứ lớn, địa hình phức tạp, nhiều sông ngòi và cầu lớn. Vì vậy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã đề nghị và được Bộ Chỉ huy chiến dịch đồng ý cho Quân đoàn nổ súng sớm hơn vào ngày 26-4. Như vậy, Quân đoàn có thể hiệp đồng với các hướng khác khi đồng loạt tổng công kích vào Sài Gòn.
Theo đúng kế hoạch, 17 giờ ngày 26-4-1975, Quân đoàn bắt đầu bắn chuẩn bị, mở màn chiến dịch tiến công ở hướng đông - đông nam Sài Gòn và cũng là mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngay từ phút đầu quân địch đã bị chế áp hoàn toàn, hệ thống phòng ngự của chúng bị rối loạn.
Lúc 17 giờ 45 phút, các sư đoàn bộ binh thê đội 1 hiệp đồng với pháo binh, xe tăng đột phá các mục tiêu đã định đánh chiếm một phần Trường Thiết giáp, căn cứ Nước Trong, tiêu diệt một bộ phận Lữ đoàn thủy quân lục chiến 46, Chiến đoàn 318, chiếm Ngã ba đường 10 và đường 15 quân lỵ Đức Thạnh và phát triển tiến công thị xã Bà Rịa. Trung đoàn 116 đặc công tiếp cận chuẩn bị đánh chiếm cầu Xa Lộ. Ngày 27-4, địch tổ chức phản kích, dùng pháo binh, máy bay đánh phá dữ dội vào các trận địa hoa lực và các mũi đột kích của ta. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt, nhất là tại khu vực căn cứ Nước Trong. Ta phải giành đi giật lại với địch từng lô cốt, từng căn nhà, có mục tiêu phải đánh đi đánh lại ba, bốn lần. Ở hướng đường 15, ta chiếm Chi khu Long Thành, Phước Thiềng, bao vây Long Tân, làm chủ thị xã Bà Rịa. Địch phá cầu Cổ Mây và ngăn chặn, ta phải cho lực lượng đánh vòng phía sau buộc địch phải bỏ cầu Cổ Mây rồi phát triển tiến công về Vũng Tàu. Đêm ngày 27-4, Trung đoàn 116 đặc công chiếm được cầu Xa Lộ.
Như vậy đến đêm 27-4, vềcơ bản Quân đoàn đã đập nát tuyến phòng thủvành ngoài phía đông - đông nam Sài Gòn của địch và cắt hẳn đường rút chạy ra biển của chúng.
10 giờ ngày 28-4, Quân đoàn nhận được thông báo: "Toàn chiến dịch tổng công kích vào sáng ngày 29-4. Đơn vị nào đánh nhanh cứ đánh chiếm Dinh Độc lập, không cần chờ đơn vị bạn". Sáng ngày 29-4, đợt tổng công kích trên toàn mặt trận bắt đầu. Các lực lượng của Quân đoàn đã tiêu diệt và gọi hàng cụm quân địch ở rừng cao su Ngã ba đường 15 và đánh chiếm căn cứ Long Bình, Chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, tổ chức vượt sông bằng sức mạnh đánh chiếm Cát Lái, khóa đường rút chạy của địch theo sông Nhà Bè, đánh chiếm và làm chủ phần lớn thị xã Vũng Tàu. Pháo binh chiếm lĩnh trận địa ở Nhơn Trạch, bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, không cho địch rút chạy bằng đường không.
05 giờ ngày 30-4-1975, các mũi tiến công của Quân đoàn đồng loạt tiến vào nội đô, tổ chức vượt sông bằng sức mạnh, đánh chiếm quận 9, quận 4. Binh đoàn thọc sâu tiến công mạnh mẽ trong hành tiến, tiêu diệt quân địch phòng ngự phía tây cầu Xa Lộ, phát triển tiến công đánh chiếm các mục tiêu quan trọng nội đô Sài Gòn. Trên đường tiến công của binh đoàn thọc sâu từ Ngã ba Long Bình đến Dinh Độc lập đã diễn ra những trận đánh quyết liệt giữa ta và địch, nhưng với cách đánh táo bạo, kiên quyết, hỏa lực tập trung cao, sức đột kích mạnh, cơ động nhanh, ta đã nhanh chóng đập tan những cụm phòng ngự cuối cùng của địch. Trên hướng đường 2, ta làm chủ Vũng Tàu lúc 9 giờ và phát triển tiến công đánh chiếm đảo Cần Giờ.
Xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu
10 giờ 30 phút, lực lượng đi đầu của binh đoàn thọc sâu đánh chiếm Dinh Độc lập, bắt toàn bộ nội các Dương Văn Minh. 11 giờ 30 phút, lá cờ chiến thắng được các chiến sĩ cắm trên nóc Dinh Độc lập.
Sở Chỉ huy tiền phương Quân đoàn tiến vào Dinh Độc lập tiếp tục chỉ huy đánh chiếm các mục tiêu còn lại, tổ chức truy quét tàn binh, tuần tra canh gác, giữ vững an ninh trật tự khu vực đã chiếm. Lực lượng dự bị của Quân đoàn đánh chiếm huấn khu và Học viện Cảnh sát quốc gia Thủ Đức. Sau 5 ngày đêm liên tục chiến đấu, Quân đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ Chỉ huy chiến dịch giao.
Bốn chiến sĩ Binh đoàn Hương Giang mang cờ tiến thẳng vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 (người cầm cờ là chiến sĩ Bùi Quang Thận). Ảnh tài liệu
Quân đoàn 3:
Là một trong năm binh đoàn chủ lực tiến công vào Sài ngày 12-4-1975, Quân đoàn 3 được Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Minh giao nhiệm vụ: Với lực lượng trong biên chế đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch từ tây bắc Sài Gòn, cụ thể:
Tập trung lực lượng đánh trận thôi động diệt căn cứ đoàn 25 ở Đồng Dù, thực hiện chia cắt, bao vây, ngăn chặn diệt Sư đoàn 25, không cho chúng co cụm về Sài Gòn. Tổ chức lực lượng đột kích mạnh, binh chủng hợp thành cỡ sư đoàn từ hướng tây bắc Sài Gòn theo đường 1 và đường 15 tiêu diệt địch, chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, phát triển hiệp đồng với quân đoàn bạn đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy; đánh chiếm và làm chủ quận 3, phát triển sang quận 1, hiệp đồng với quân đoàn bạn đánh chiếm Dinh Độc lập; phát triển sang quận 10 hiệp đồng với quân đoàn bạn đánh chiếm Biệt khu Thủ đô ngụy. Đây là nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn.
Hướng tiến công của cánh quân tây bắc với chiều sâu khoảng 100 km, chiều rộng từ 4 đến 10 km. Khu vực này có tới 18 trận địa pháo của địch, trong đó có hơn 60 khẩu từ 105 ly trở lên. Trên hướng này, chỉ có hai trục đường chính độc đạo ra vào Sài Gòn, đó là trục quốc lộ 1 nối Củ Chi-Sài Gòn. Tiến theo trục này phải vượt qua cầu Bông. Trục tỉnh lộ 15 nối Tân Phú Trung - Tân Quy - Hoóc Môn - Tân Sơn Nhất. Tiến theo trục này phải vượt qua cầu Sáng. Hai cây cầu này không lớn như các cầu Đồng Nai, Sài Gòn..., nhưng vị trí chiến lược thì quan trọng không kém.
Để vào được Sài Gòn, cánh quân tây bắc phải vượt qua ba tuyến phòng thủ của địch. Đó là tuyến phòng thủ vòng ngoài bao gồm các khu vực Tây Ninh, Trảng Bàng, Củ Chi, Đồng Dù, Hậu Nghĩa do Sư đoàn bộ binh 25 và lực lượng hỗn hợp biệt động quân, bảo an... đảm nhiệm. Tuyến phòng thủ ngoại vi bao gồm các khu vực cầu Bông, cầu Sáng, Hoóc Môn, thành Quan Năm... Lực lượng tham gia phòng thủ ở đây chủ yếu là bảo an, biệt động, biệt kích dù, công binh, học viên cùng với số tàn quân từ các nơi dồn về. Tuyến phòng thủ nội đô có Lữ đoàn dù 4, các lực lượng tại chỗ của Lữ đoàn không quân 5, của các Bộ Tư lệnh Binh chủng đóng tại Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu nguỵ.
Trên hướng tiến công của cánh quân tây bắc, lực lượng địch còn rất đông, trang bị mạnh, phòng thủ theo chiều sâu có nhiều cứ điểm vững chắc. Trước khi ta mở chiến dịch Hồ Chí Minh, quân địch trên hướng này có Sư đoàn bộ binh 25 (3 trung đoàn bộ binh trung đoàn thiết giáp); Lữ đoàn dù 4; 2 liên đoàn biệt động (9 và 23); Sở Chỉ huy Liên đoàn biệt động quân 33; Liên đoàn 5 công binh; Trung tâm huấn luyện Quang Trung; 1 tiểu đoàn biệt kích dù; 20 tiểu đoàn bảo an, Sư đoàn 5 không quân Tổng quân địch ước khoảng 24.000 tên.
Để nhanh chóng thọc sâu vào đánh chiếm hai mục tiêu chính bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu ngụy, cánh quân tây bắc phải giải quyết nhiều mục tiêu chiến lược quan trọng, trong đó những mục tiêu có ý nghĩa chiến lược đặc biệt là căn cứ Đồng Dù, cầu Bông, cầu Sáng. Phối hợp giải quyết ba mục tiêu này như thế nào để bảo đảm cho mũi thọc sâu của Sư đoàn 10 thực hiện đúng kế hoạch quả là một bài toán hóc búa. Thời gian nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù của Sư đoàn 320 và đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng của Trung đoàn đặc công 198 có ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch thọc sâu của Sư đoàn 10. Chính vì vậy, sau khi bàn bạc, cân nhắc kỹ lưỡng, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã quyết định chọn thời điểm nổ súng thích hợp nhất để đánh chiếm các mục tiêu cầu Bông, cầu Sáng và bàn đạp Hoóc Môn - đó chính là lúc mà Sư đoàn 320 siết chặt vòng vây Sư đoàn 25 ngụy tại căn cứ Đồng Dù và bắt đầu nổ súng tiến công tiêu diệt căn cứ này. Nhằm tiêu diệt hỏa lực pháo binh địch trên hướng tây bắc,
Ngay từ ngày 25-4, các trận địa pháo của Quân đoàn tiếp cận tập bắn phá Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng, gò Dầu Hạ. Cuộc đấu pháo kéo dài 4 ngày đêm liền đã tiêu diệt 11 trong tổng số 18 trận địa pháo của địch, làm tê liệt 7 trận địa còn lại, phá huỷ 22 khẩu 105 ly; 12 khẩu 155 ly.
05 giờ 30 phút ngày 29-4, sau những đợt pháo kích từ các trận địa pháo thì bộ binh và xe tang từ các hướng cũng đồng loạt nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù. 10 giờ 30 phút ngày 29-4, Đại đội 1 - Tiểu đoàn 1 và Đại đội 6 - Tiểu đoàn 2 đã làm chủ Sở Chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá và thuộc hạ của y đã bỏ chạy và lẩn trốn ra rừng cao su, mãi đến sáng hôm sau (ngày 30-4) thì bị du kích Củ Chi bắt sống.
11 giờ 00 ngày 29-4, Sư đoàn 320 làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù, mở toang cánh cửa thép vào Sài Gòn trên hướng tây bắc.
18 giờ 00 ngày 29-4, lần lượt đánh chiếm và vượt qua các mục tiêu: Trung tâm huấn luyện Quang Trung, cầu Tham Lượng,….đến chiều 29-4, huyện Củ Chi – Cửa ngõ tây bắc Sài Gòn hoàn toàn được giải phóng.
23 giờ 00 ngày 29-4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 nhận được một bức điện khẩn của Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh bổ sung giao nhiệm vụ chính thức cho Quân đoàn 3 đánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu nguỵ thay vì trước đó chỉ là nhiệm vụ phát triển hiệp đồng.
07h15 phút ngày 30-4, Thiếu tướng Vũ Lăng, Tư lệnh Quân đoàn 3 phát lệnh tiến công. Đòn tiến công quyết định cuối cùng trên hướng tây bắc nhằm vào các mục tiêu: Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu nguỵ, Bộ Tư lệnh không quân, Bộ Tư lệnh Quân dù, khu truyền tin… 9 giờ, ngày 30-4 Đại đội 2, Tiểu đoàn 4 theo cổng số 4 đột phá đánh chiếm Bộ tư lệnh dù; 10 giờ 35 phút, Đại đội 10 và Đại đội 11, Tiểu đoàn 6 tiến vào Bộ tư lệnh Không quân ngụy. Đúng 11 giờ 30 phút, ngày 30-4-1975, Đại đội 11, Tiểu đoàn 6 đã kéo lá cờ quyết thắng lên đỉnh cột cờ Bộ tư lệnh Không quân ngụy...
Xe tăng tiến vào Bộ Tổng tham mưu Nguỵ vào ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu
Chiến sĩ Trung đoàn 28, Quân đoàn 3 làm chủ Bộ Tổng Tham mưu quân đội
Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Ảnh TTXVN
Quân đoàn 4:
Mặc dù Quân đoàn 4 ra đời tại chiến trường, ít có thời gian huấn luyện, xây dựng cơ bản tuy nhiên trong điều kiện vừa mới thành lập, chưa đủ thời gian tổ chức, quân đoàn đã được tổ chức giao nhiệm vụ mở chiến dịch tiến công đường 14-Phước Long.
Chiến dịch đường 14 - Phước Long mở màn từ ngày 13-12-1974, kết thúc ngày 6-1-1975; quân và dân ta đã giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long. Đây là tỉnh đầu tiên trên chiến trường miền Nam được giải phóng hoàn toàn. Một hậu phương mới hình thành, mộ bàn đạp tiến công, một binh trạm trên tuyến đường 559 dừng chân triển khai các loại binh khí kỹ thuật và cho các đoàn quân chủ lực triển khai lực lượng uy hiếp trực tiếp tới Tổng hành dinh của chế độ nguy Sài Gòn.
Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc quân đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Từ phải sang: Thiếu tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh quân đoàn đứng thứ nhất, Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện - Chính ủy, Bí thư Đảng ủy quân đoàn ngồi thứ hai). Ảnh tư liệu
Chiến thắng Phước Long có tiếng vang lớn đối với quốc tế đúng trong thời điểm Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp mở rộng tại Hà Nội. Đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất đã vui mừng khẳng định: "Thực tế này nói rõ hết khả năng của ta, sự phản ứng thế bào của nguỵ và nhất là của Mỹ". Chiến thắng này đã mở ra tiền đề cho cách mạng miền Nam thần tốc tiến lên giải phóng hoàn toàn.
Mở đầu cho giai đoạn tạo thế của Quân đoàn bắt đầu từ ngày 11 đến ngày 13-3-1975, Sư đoàn 9 tiến công giải phóng Dầu Tiếng - Bến Củi - suối Ông Hùng (gọi chung là khu vực Dầu Tiếng). Khu vực Dầu Tiếng nằm kẹp giữa hai con đường huyết mạch (quốc lộ 13 và quốc lộ 22). Dầu Tiếng là thị trấn lớn nằm sát sông Sài Gòn, dân cư đông, là đầu mối giao thông liên tỉnh chạy về Bình Dương và Tây Ninh. Địch bố trí ở khu vực này 4 tiểu đoàn bảo an, 12 trung đội dân vệ, 22 trung đội phòng vệ dân sự, 1 tiểu đoàn tăng cường pháo 105 mm - 155 mm và được Sư đoàn 25 ngụy ở Đồng Dù sẵn sàng cơ động chi viện.
Trong ba ngày chiến đấu, Sư đoàn 9 đã phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giải phóng một địa bàn quan trọng, uy hiếp trực tiếp quốc lộ 22, tạo ra bàn đạp đứng chân quan trọng ở phía tây bắc cho các binh đoàn chủ lực của Bộ Tư lệnh Miền triển khai tiến công đánh chiếm Tràng Bảng (Tây Ninh); Đồng Dù (Củ Chi) và giải phóng Sài Gòn.
Sau chiến thắng Dầu Tiếng, Sư đoàn 9 và Trung đoàn 273 Sư đoàn 341 được tăng cường xe tăng, pháo binh phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Bình Phước tiến công Chơn Thành - Chi khu quân sự nằm trên quốc lộ 13, phía bắc thị xã Thủ Dầu Một; nơi dây tập trung lực lượng mạnh cả về bộ binh, xe tăng và pháo binh.
Với quyết tâm khai thông trục quốc lộ 13 nối liền với vùng giải phóng Lộc Ninh, tạo địa bàn chiến lược ở hướng bắc, Sư đoàn 9 vừa tiến công địch phòng ngự trong Chi khu, vừa tổ chức đánh địch (Chiến đoàn 315) phản kích từ Bàu Bàng lên.
Trên hướng đông bắc Sài Gòn, một lực lượng khác của Quân đoàn (Sư đoàn 7) đã nổ súng tiến công Định Quán, Phương Lâm, Đắc Oai, Lâm Đồng... Từ ngày 18 đến ngày 31-3, quân ta giải phóng trục đường 20 từ cầu La Ngà đi Bảo Lộc, giải phóng hoàn toàn tỉnh Lâm Đồng, nối thông với nam Tây Nguyên. Cuộc chiến trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, với sức dẻo dai của đôi chân người lính không biết mỏi, Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 được lệnh nhanh chóng trở về mặt trận Xuân Lộc - Long Khánh để thực hiện nhiệm vụ "mở toang cánh cửa thép phía đông".
Đối với chiến trường miền Đông Nam Bộ, sau khi giải phóng Dầu Tiếng, Chơn Thành, Định Quán, Lâm Đồng..., mở rộng thể chiến lược phía đường quốc lộ 13 và tỉnh lộ 20, hiện Xuân Lộc - Long Khánh là mục tiêu án ngữ con đường số một tiến vào Sài Gòn từ hướng đông, đông bắc. Do vậy, việc giải phóng Xuân Lộc -Long Khánh trở thành yêu cầu cấp thiết để hoàn chỉnh thế trận chiến lược ở phía đông, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực đang tiến công thần tốc giải phóng vùng Nam Trung Bộ, cơ động vào triển khai áp sát vành đai Sài Gòn, rút ngắn chiều sâu tiến công vào nội đô.
Trải qua 13 ngày đêm (từ ngày 9 đến ngày 21-4-1975), cuộc chiến đấu gay go, ác liệt để giải phóng Xuân Lộc - Long Khánh đã kết thúc thắng lợi. Quân đoàn 4 cùng lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Long Khánh đã vượt qua hy sinh mất mát, khó khăn để đập tan cánh cửa thép Xuân Lộc, mở cửa tiến vào Sài Gòn từ hướng đông. Cho đến thời điểm đó, một vùng rộng lớn gồm Phước Long, Bình Long, Lâm Đồng được hoàn toàn giải phóng. Thắng lợi này góp phần làm suy sụp hệ thống chính quyền ngụy Sài Gòn, buộc Tổng thống nguỵ Nguyễn Văn Thiệu phải tuyên bố từ chức cùng ngày (ngày 21-4). Các đài báo phương Tây dưa tin và lời bình: "Tướng Thiệu đã thua cuộc, cả Hoa Kỳ cũng đã thua cuộc, thế giới tự do cũng đã thua nốt. Sự sụp đổ hoàn toàn... không thay đổi được nữa"'...
Bộ đội Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc, đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất phía Đông Sài Gòn, ngày 21/4/1975. Ảnh tư liệu
Mất Xuân Lộc và chỉ sau đó 9 ngày mất luôn Sài Gòn, chế độ ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ sụp đổ. Cùng với các chiến thắng to lớn của các binh đoàn khác, chiến thắng của Quân đoàn 4 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tại chỗ giải phóng một vùng rộng lớn - một địa bàn chiến lược kéo dài từ hướng bắc, tây bắc về phía đông bắc Sài Gòn, nối liền với nam Tây Nguyên và khai thông quốc lộ 1A, tạo điều kiện cho các binh đoàn cơ động triển khai lưc lương cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng
Đoàn 232:
Sau Chiến dịch Đường 14-Phước Long, cuối tháng 1-1975, Trung ương Cục miền Nam khẳng định: Lực lượng vũ trang B2 có đủ khả năng tự giải phóng các địa phương trên địa bàn nên đã thông qua bước 2 kế hoạch mùa khô 1974-1975 do Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng miền Lê Đức Anh đề xuất, gồm 3 điểm:
Giải phóng đại bộ phận nông thôn đồng bằng, mở thông hành lang từ Tây Ninh xuống Quân khu 8, Quân khu 9, chia cắt tuyến Quốc lộ 4 nối Sài Gòn với Đồng bằng sông Cửu Long;
Hoàn thành một bước quan trọng ý định chiến lược chuẩn bị cho đòn quyết chiến chiến lược đánh vào thành phố Sài Gòn;
Đánh địch vừa tạo thế trận vừa nhằm tiêu diệt sinh lực của chúng.
Để thực hiện kế hoạch nêu trên, Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập một đơn vị chủ lực có quy mô cấp quân đoàn. Để giữ bí mật, đơn vị lấy phiên hiệu Đoàn 232, tương tự phiên hiệu các đoàn hậu cần khu vực được thành lập trước đó trên chiến trường B2. Đoàn 232 thành lập đầu tháng 2-1975, biên chế ban đầu gồm: Sư đoàn 5, Sư đoàn 3, Trung đoàn 16, các đơn vị pháo binh, xe tăng, thông tin, công binh và cơ quan đoàn bộ. Bộ chỉ huy Đoàn 232 gồm Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà, Tư lệnh), Đại tá Trần Văn Phác (Tám Trần, Chính ủy), Đại tá Bùi Thanh Vân (Út Liêm, Phó tư lệnh), Đại tá Trần Văn Nghiêm (Phó tư lệnh). Ngay sau khi thành lập, Đoàn 232 khẩn trương thực hiện nhiệm vụ mở hành lang trên hướng tây nam Sài Gòn, đánh địch từ Tây Ninh xuống Kiến Tường, làm chủ vùng phía tây sông Vàm Cỏ Đông, đánh chiếm chi khu Dầu Tiếng, tiến công các căn cứ Suối Ông Hùng, Cầu Khởi Bến Cầu, Mộc Bài, Đức Hòa Tuyên Nhơn, Bình Thành, mở thông hành lang từ Tây Ninh xuống Kiến Tường.
Ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Theo kế hoạch, lực lượng tiến công giải phóng Sài Gòn được tổ chức trên 5 hướng: Đông Nam, Đông, Bắc, Tây Bắc và Tây-Tây Nam. Tiến công trên hướng Tây và Tây Nam, Tư lệnh Lê Đức Anh chỉ huy Binh đoàn cánh Tây Nam cùng các đơn vị phối thuộc và lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu chặn cắt Quốc lộ 4, tiến công thị xã Hậu Nghĩa, chi khu Đức Hòa, chi khu Đức Huệ, thị xã Tân An, chi khu Thủ Thừa.
Ngày 28-4, các đơn vị của binh đoàn tiến công vào tuyến phòng thủ trực tiếp thành phố Sài Gòn, đánh chiếm một số mục tiêu, cắt mọi đường giao thông thủy, bộ, triệt để cô lập Sài Gòn. Sư đoàn 3 đánh chiếm đầu cầu khu vực An Ninh- Lộc Giang, tổ chức vượt sông Vàm Cỏ. Sư đoàn 5 cắt đứt hoàn toàn Quốc lộ 4 đoạn từ Bến Lức đến Long An. Sư đoàn 9 vượt sông Vàm Cỏ Đông vào vị trí tập kết tại Mỹ Hạnh, Đức Hòa. Các trung đoàn 24 và 88 đánh chiếm các căn cứ mở rộng khu vực đứng chân phía bắc Cần Giuộc và làm chủ đường số 5.
Ngày 29-4, binh đoàn đồng loạt tiến công chặn và tiêu diệt các tập đoàn chủ yếu của địch ở vòng ngoài. Sư đoàn 3 đánh chiếm thị xã Hậu Nghĩa, chi khu Đức Hòa, chi khu Đức Huệ và căn cứ Trà Cú, mở bến vượt sông Vàm Cỏ Đông. Sư đoàn 5 tiếp tục giữ vững Quốc lộ 4, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Sư đoàn 9 vượt qua Mỹ Hạnh, Vĩnh Lộc, tiến vào hướng Bà Quẹo, Bà Hom.
Ngày 30-4, các đơn vị của Binh đoàn cánh Tây Nam đồng loạt tổng công kích vào nội thành. Sư đoàn 3 đánh chiếm khu vực Hậu Nghĩa, hai bên sông Vàm Cỏ. Sư đoàn 5 đánh chiếm thị xã Tân An, chi khu Thủ Thừa. Sư đoàn 9 đánh chiếm biệt khu thủ đô, trung tâm ra-đa Phú Lâm, Trường đua Phú Thọ. Trung đoàn 16 đánh chiếm khu Xa cảng miền Tây, An Lạc, Bình Điền. Trung đoàn 24 đánh chiếm bốt cảnh sát quận 8, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia. Trung đoàn 88 đánh chiếm Đa Phước, Ông Thìn, khu Nhà Bè. Đến 11 giờ ngày 30-4, các đơn vị của Binh đoàn cánh Tây Nam đã cắm cờ giải phóng trên nóc nhà biệt khu thủ đô, tổng nha cảnh sát, dinh tỉnh trưởng Long An và các căn cứ khác. Một số mũi thọc sâu của binh đoàn đã phát triển hợp điểm với các cánh quân khác tại Dinh Độc Lập.
Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu
Các cánh quân ùn ùn đổ về Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu