Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao; là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; đánh dấu bước trưởng thành tột bậc của nền ngoại giao cách mạng thời đại Hồ Chí Minh.
Đầu năm 1967, thắng lợi của Nhân dân Việt Nam trên cả hai miền Nam - Bắc đã tạo ra những khả năng mới để đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao. Tình thế đã đến lúc cho phép ta mở "Mặt trận đấu tranh ngoại giao" để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của Nhân dân thế giới và nhân dân tiến bộ Mỹ, cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ. Theo đó, từ ngày 23 - 26.1.1967, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 13, chủ trương nâng đấu tranh ngoại giao lên thành mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận chính trị và mặt trận quân sự.
Ngày 28.1.1967, với tư cách Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, trả lời phỏng vấn nhà báo Australia Wilfred Burchett, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: “Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện”. Ngày 29.12.1967, trong buổi chiêu đãi Đoàn đại biểu Mông Cổ tại Thủ đô Hà Nội, đồng chí Nguyễn Duy Trinh khẳng định lại: “Sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về các vấn đề liên quan.
Song song với mặt trận ngoại giao, Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên quân và dân cả nước đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, kết hợp chiến tranh du kích với những đòn đánh quyết định của quân chủ lực và nổi dậy của quần chúng nhân dân; kết hợp quân sự, chính trị và ngoại giao; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trên các chiến trường, Đảng đề ra phương châm: kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh… Vì thế, ta càng đánh càng mạnh, càng dồn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào thế bị động đối phó, khiến chúng lần lượt thất bại trong cả hai mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967 ở miền Nam và cuộc leo thang phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc.
Đặc biệt, với “cú hích” Mậu Thân 1968, Quân giải phóng miền Nam đã đồng loạt tiến công vào nhiều thành phố, thị xã, quận lỵ và trung tâm đầu não chiến tranh của địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về sinh lực, phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần. Đây là đòn tiến công chiến lược này đánh bại một bước quan trọng ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, chuyển từ chiến lược leo thang sang tìm giải pháp chính trị, chấp nhận xuống thang chiến tranh, rút quân Mỹ về nước và chịu ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Paris.
Ngày 13.5.1968, phiên họp đầu tiên giữa hai bên với phía Việt Nam do Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và phía Mỹ do Đại sứ Harriman làm Trưởng đoàn được tiến hành tại Trung tâm các hội nghị quốc tế trên đường Kléber, Thủ đô Paris, Pháp.
Tổng thống Mỹ thảo luận với các cố vấn. Ảnh tư liệu
Cuộc đàm phán Việt Nam - Mỹ diễn ra hơn 5 tháng, từ 13.5 - 10.1968 với 28 phiên họp công khai và 12 lần gặp bí mật cấp cao và nhiều cuộc tiếp xúc, gặp gỡ riêng ở các cấp khác. Phó Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật phân tích, phía Mỹ muốn thương lượng bí mật và dùng thủ đoạn thương lượng kín đi đôi với tuyên truyền, đánh lạc hướng dư luận, gây ảo tưởng hòa bình trong khi vẫn tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam. Phía Việt Nam chủ trương họp công khai nhằm tận dụng Hội nghị Paris để tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ, tuyên truyền, vận động các nước ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam.
Cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ Henry Kissinger, hai người tạo ra những huyền thoại ngoại giao về cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra tại Việt Nam. Ảnh tư liệu
Như vậy, trước những thất bại về quân sự, chính trị ở Việt Nam và những khó khăn trong nội bộ nước Mỹ cũng như trước đòi hỏi kiên quyết của Chính phủ và Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 31.10.1968, Tổng thống Mỹ Johnson phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom, bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấp nhận họp Hội nghị Paris để giải quyết chiến tranh ở Việt Nam, thừa nhận đại diện chính thức của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị. Ngoại giao đã thực sự trở thành một mặt trận quan trọng, góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán giải quyết cuộc chiến tranh tại Việt Nam”.
Ngày 25.1.1969, Hội nghị đàm phán bốn bên về vấn đề Việt Nam khai mạc với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (sau là Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Cộng hòa. Ngoài 202 phiên họp chính thức, còn có thêm 24 cuộc mật đàm giữa Cố vấn Henry Kissinger và Cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Xuân Thủy. Hội đàm bốn bên thực chất là diễn đàn công khai để các bên trình bày quan điểm của mình, các cuộc gặp bí mật là diễn đàn thực sự để thỏa thuận giải pháp cho vấn đề Việt Nam...
Ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris chính thức được ký kết, tạo ra bước ngoặt lịch sử trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến thắng vĩ đại này là kết tinh thành quả đấu tranh kiên cường, bất khuất và hy sinh vô cùng to lớn của quân và dân ta trên mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ Đồng khởi Bến Tre năm 1960, đến Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Tiến công chiến lược Xuân - Hè năm 1972 và chiến thắng vang dội 12 ngày đêm "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không". Ngoại giao đã trở thành một mặt trận tiến công, kết hợp nhuần nhuyễn và chuyển hóa hoàn toàn thắng lợi trên mặt trận chính trị, quân sự thành thắng lợi trên bàn đàm phán, thể hiện sáng ngời bản lĩnh, cốt cách và trí tuệ Việt Nam, thấm đượm tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Xuân Thuỷ tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu
Hiệp định Paris có 9 chương 23 điều, với những điều khoản quan trọng, như: Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hoa Kỳ rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, phá hết các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do. Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị. Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.
Đối với Việt Nam, Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao; là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; đánh dấu bước trưởng thành tột bậc của nền ngoại giao cách mạng thời đại Hồ Chí Minh. Bởi việc ký Hiệp định Paris đã đạt hai yêu cầu cơ bản nhất: Một là, Mỹ rút toàn bộ, triệt để và nhanh chóng toàn quân xâm lược khỏi miền Nam, không được can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Hai là, ta vẫn duy trì được lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho cách mạng ở miền Nam tiếp tục tiến lên. Hiệp định Paris đã đánh dấu sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng trên chiến trường.
Hiệp định Paris về Việt Nam còn đánh dấu sự thất bại của chính sách xâm lược của Mỹ ở Việt Nam và cũng là thất bại thảm hại nhất trong lịch sử chiến tranh của nước Mỹ, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân về nước. Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử, mang ý nghĩa thời đại sâu sắc và đúc kết những bài học lớn, đặc biệt đối với việc tạo dựng hình ảnh, vị thế và uy tín quốc gia của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn.
Đầu tiên, với việc ký kết Hiệp định Paris, Đảng ta đã thể hiện rõ đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo của mình, làm thất bại những thủ đoạn gian ngoan, xảo quyệt của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Đây là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn của Đảng ta cũng là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Khác với Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương, cuộc đàm phán ở Thủ đô Paris (Pháp) là cuộc đàm phán trực tiếp giữa Việt Nam và Mỹ, không qua trung gian. Việt Nam độc lập, tự chủ quyết định mọi vấn đề trong quá trình đàm phán, cả về nội dung, hình thức, bước đi của đàm phán.
Ngay từ những ngày đầu, khi Mỹ từng bước leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, Việt Nam đã đề ra những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho đàm phán, đó là lập trường 5 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (ngày 22-3-1965) và tuyên bố 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 8-4-1965). Vị trí quan trọng của đấu tranh ngoại giao ngày càng được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 12 (tháng 12-1965), Nghị quyết số 13 (tháng 1-1967), Nghị quyết số 14 (tháng 1-1968) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tổng thống Mỹ và các cố vấn. Ảnh tư liệu
Nêu cao ngọn cờ kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta, Đảng ta không ngừng mở rộng mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam. Ngày 24-1-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới 66 vị nguyên thủ quốc gia (bao gồm cả nước lớn) nêu rõ tính chất chính nghĩa trong cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống sự xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ. Ngay sau đó, chính phủ các nước đã bày tỏ thái độ dứt khoát trong việc ủng hộ Việt Nam, lên án sự xâm lược cùng chiến dịch lừa gạt của đế quốc Mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới 66 vị nguyên thủ quốc gia
(bao gồm cả nước lớn) nêu rõ tính chất chính nghĩa trong cuộc chiến đấu
của nhân dân Việt Nam chống sự xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ. Ảnh tư liệu
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, ngày 3-4- 1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ để xác định việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom, bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhằm đi tới giải quyết vấn đề Việt Nam. Khi Mỹ lảng tránh vấn đề bằng cách trì hoãn việc thỏa thuận về địa điểm, Việt Nam đã đề nghị hai bên nói chuyện chính thức ngay tại Thủ đô Paris. Đề nghị hợp tình, hợp lý của Việt Nam khiến Mỹ không còn đường lùi, buộc phải chấp nhận tình hình và ngồi vào bàn đàm phán Paris một cách bị động từ tháng 5-1968. Cuộc đàm phán diễn ra tại Thủ đô Paris là trận địa chủ yếu của cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam, tác động mạnh mẽ và kịp thời đến dư luận Mỹ và phương Tây trong việc giải thích lập trường chính nghĩa của ta, phê phán và bóc trần những luận điệu sai trái, phi nghĩa của đối phương.
Với bản chất ngoan cố, Mỹ yêu cầu Hội nghị Paris là hội nghị giữa hai phía: Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với dụng ý phủ nhận vai trò độc lập của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; Việt Nam đã kiên trì nguyên tắc, vận dụng sách lược linh hoạt, đồng thời lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ Mỹ để buộc chính quyền Mỹ phải chấp nhận hội nghị bốn bên có sự tham gia của
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với tư cách là một bên độc lập và bình đẳng với các bên khác. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của nhân dân ta. Tuy nhiên, Mỹ và chính quyền tay sai vẫn tìm cách phá hoại, cản trở công việc của Hội nghị Paris, với chủ trương vừa tham gia Hội nghị Paris vừa thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút quân “nhỏ giọt”, kéo dài chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, lừa gạt dư luận Mỹ và thế giới, nhằm tạo ra một thế mạnh trên bàn đàm phán.
Binh sĩ của quân đội Mỹ tiến hành đổ bộ vào một bờ biển. Ảnh tư liệu
Ngày 8-5-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra giải pháp toàn bộ 10 điểm nhằm bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết và không điều kiện quân Mỹ cùng chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân miền Nam tự quyết định chế độ chính trị của mình. Đấu tranh ngoại giao và hoạt động quốc tế của Việt Nam tại Thủ đô Paris, nhất là từ khi có giải pháp toàn bộ 10 điểm, sau này là đề nghị 7 điểm của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới; từ đó, ngày càng phát huy sức tiến công, thế mạnh của Việt Nam trên các mặt trận, nêu cao thiện chí và chính nghĩa của ta.
Quân giải phóng Sài Gòn-Gia định tuyên thệ, nhận nhiệm vụ trước giờ xuất kích năm 1968. Ảnh tư liệu
Trải qua thời gian dài đàm phán, ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam gửi cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”, với sự nhất trí của các bên, nhưng đến ngày 22-10-1972, phía Mỹ lật lọng, viện dẫn chính quyền Sài Gòn đòi sửa bản dự thảo, khiến cuộc đàm phán rơi vào thế bế tắc. Tuy nhiên, thất bại thảm hại của Mỹ trong cuộc đối đầu lịch sử 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đã khiến chính quyền Tổng thống Mỹ Richard Nixon và lực lượng ngụy quyền hiếu chiến bị giáng một đòn đau về quân sự, chìm sâu dưới làn sóng phẫn nộ của nhân dân thế giới, buộc phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris. Trên thế thắng, phái đoàn ta tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững những nội dung của dự thảo, buộc Mỹ tiếp tục phải ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973. Việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là thắng lợi tổng hợp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, nhất là trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với thắng lợi này, dân tộc ta đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, tạo điều kiện thuận lợi để tiến tới mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Theo Hiệp định Paris, các nghị định thư, các thỏa thuận, công hàm của Tổng thống Mỹ R. Nixon gửi tới Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 30-1-1973, chúng ta đã đạt được bốn yêu cầu chính, đó là: Mỹ phải tôn trọng độc lập, thống nhất của Việt Nam; Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam; Mỹ phải thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát; Mỹ phải đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở hai miền Việt Nam.
Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu
Tiếp theo, Hiệp định Paris là thắng lợi của tinh thần đoàn kết quốc tế. Hiệp định Paris đã tạo ra điều kiện và môi trường thuận lợi để nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, chính nghĩa và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.
Đây là nền tảng quan trọng để bước vào thời kỳ Đổi mới, chúng ta khai thông, nối lại và bình thường hóa các mối quan hệ đối ngoại, phá bỏ sự bao vây, cô lập, cấm vận, mở ra giai đoạn hội nhập sâu rộng vào khu vực và thế giới, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.
Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta đã đề ra mục tiêu tăng cường tập hợp lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ, các tổ chức tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới để bảo vệ độc lập dân tộc. Trong đó, việc đẩy mạnh quan hệ với các nước lớn được khẳng định là tiếp tục phát triển và củng cố tình hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nước dân chủ khác; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 mở rộng (khóa II) cũng khẳng định “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á”. Thực tiễn đã chứng minh, sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và một số nước khác dành cho Việt Nam hết sức to lớn, trên nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, kinh tế và ngoại giao.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Duy Trinh (hàng đầu, thứ 6 từ trái sang phải) và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (hàng đầu, thứ 4 từ trái sang phải) được Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản L.I. Bơ-rê-giơ- nhép, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng A.N. Cô-xư-ghin cùng các lãnh đạo Đảng và nhà nước Liên Xô đón tiếp thân mật và chúc mừng thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam, tháng 2/1973.
Đảng và Nhà nước Liên Xô nhiều lần khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ Việt Nam; những chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đến Việt Nam vào tháng 2-1965 và đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam thăm Liên Xô vào tháng 4-1965 đã thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó, mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Thể hiện sự quyết tâm đó, ngày 23-9-1967, Liên Xô ký kết viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam; Liên Xô không chỉ dành cho Việt Nam những khoản viện trợ và giúp đỡ to lớn cả nhân lực, vật lực, mà còn lên tiếng ủng hộ Việt Nam thông qua các diễn đàn quốc tế, hội thảo, tiếp xúc báo chí; luôn nêu cao vai trò đi đầu, làm nòng cốt tập hợp lực lượng ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đàm phán Paris và đấu tranh thống nhất đất nước. Tại Hội nghị lãnh đạo Đảng và Nhà nước các nước xã hội chủ nghĩa diễn ra ở Thủ đô Moscow (ngày 3-12 đến 4-12-1969), Liên Xô và 6 nước xã hội chủ nghĩa đã ra một bản tuyên bố nhất trí lên án cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam và ủng hộ, giúp đỡ tối đa cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam; kịch liệt phản đối Chính phủ Mỹ tiếp tục chiến tranh xâm lược và gây ra những tội ác man rợ chống lại nhân dân Việt Nam, tố cáo lập trường ngoan cố của Mỹ làm cho Hội nghị Paris không tiến triển được.
Thời kỳ này, Trung Quốc cũng viện trợ số lượng lớn hàng hóa và tài chính cho Việt Nam; tổ chức nhiều cuộc mít-tinh lớn lên tới hàng triệu người tham gia lên án Mỹ, ủng hộ Việt Nam; cử các chuyên gia giúp xây dựng những công trình quân sự, dân sự, đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam để xây dựng đất nước, phục vụ kháng chiến. Sự ủng hộ và giúp đỡ của các đồng minh chiến lược lớn là thế dựa vững chắc của Việt Nam về chính trị trên phạm vi quốc tế; là hậu thuẫn giúp Việt Nam tranh thủ thêm sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới; là thuận lợi lớn để Việt Nam tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, nâng cao vị thế, tạo thế trên bàn đàm phán; đồng thời, là nhân tố đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược.
Cộng đồng người Việt tại Pháp chào mừng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Nguồn: Sách "Hội nghị Paris về Việt Nam - Nhìn lại, 1968-1973", Nhà xuất bản Thế giới)
Hiệp định Paris không chỉ là thắng lợi của tinh thần đoàn kết quốc tế mà Hiệp định Pa-ri còn là thắng lợi của đối sách ngoại giao Việt Nam phù hợp với từng nước lớn, không để bị cô lập.
Việt Nam bước vào đàm phán với Mỹ trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, Chiến tranh lạnh gay gắt, quan hệ Liên Xô - Trung Quốc căng thẳng, phong trào cách mạng thế giới khủng hoảng về đường lối, quan điểm… Trước tình hình đó, quan điểm nhất quán của Việt Nam vẫn là “giữ vững độc lập tự chủ, đồng thời phải cố gắng tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em. Phải độc lập tự chủ mới thắng được, nhưng phải biết đoàn kết với anh em, đừng để mình bị cô lập”. Việt Nam đã không ngừng hoạt động để tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc, để các nước lớn trên và các nước xã hội chủ nghĩa anh em hiểu rõ và ủng hộ đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lập trường đấu tranh, quyết tâm giành thắng lợi của nhân dân ta và giành cho ta sự viện trợ vật chất cũng như sự ủng hộ to lớn. Đó cũng là một đòn mạnh giáng vào âm mưu của Mỹ hòng chia rẽ, cô lập Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam vui mừng trước những thắng lợi to lớn về mọi mặt mà nhân dân Liên Xô và Trung Quốc đã giành được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Nhìn chung, quan hệ giữa nước ta với các nước lớn xã hội chủ nghĩa và các nước dân tộc chủ nghĩa tiến bộ đã có những bước phát triển mới. Các nước đều ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta trên bàn đàm phán Paris và lên án sự xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam.
Đối với Mỹ, ngày 25-8-1969, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ R. Nixon, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án mạnh mẽ chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã chà đạp các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam; khẳng định khát vọng thiết tha yêu chuộng hòa bình vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; nhấn mạnh nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh, gian khổ để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định giải pháp mà chúng ta đưa ra là hợp tình, hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam, đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh xâm lược trong danh dự.
Trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Mỹ R. Nixon thi hành chính sách ngoại giao ba chiều, liên tục gây sức ép đến các nước lớn nhằm tạo sức ép về ngoại giao, gây khó khăn đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta, ép ta đi vào đàm phán theo hướng có lợi cho Mỹ, để phá âm mưu trên, ta thẳng thừng bác bỏ quan điểm “đàm phán qua trung gian” của Mỹ, phê phán quyết liệt mưu đồ của Mỹ; đồng thời, chủ động, kiên quyết và khôn khéo để không trở thành “quân cờ” của các nước lớn, không để các nước khác mang xương máu của nhân dân Việt Nam để “mặc cả” với nhau vì lợi ích hẹp hòi của họ.
Tại Mỹ, chúng ta đã có sự kết nối chặt chẽ với phong trào chống chiến tranh Việt Nam. Phong trào phát triển liên tục, với quy mô mở rộng ra khắp các bang của nước Mỹ và nhận được sự ủng hộ, phối hợp rộng rãi của cộng đồng quốc tế; hình thức đấu tranh hết sức phong phú, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, tập đoàn tư bản, trong Quốc hội và cả Chính phủ Mỹ tham gia; các khẩu hiệu đấu tranh đều đòi nhà cầm quyền Mỹ phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút nhanh và rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó, tại Hội nghị Paris, nước Pháp chủ nhà đã thể hiện đúng vai trò trung lập; các phái đoàn của ta nhận được sự ủng hộ to lớn của Đảng Cộng sản Pháp, cũng như của nhiều chính đảng, đoàn thể các phong trào xã hội, đông đảo nhân dân Pháp và cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại Pháp. Những đồng minh gần gũi nhất của Mỹ cũng không đồng tình với đường lối của Mỹ. Thống chế Anh quốc Bernard Law Montgomery đã đăng bài viết trên tờ Thời báo New York (ngày 5-7-1968) khẳng định: “Các ông không thể thắng được. Chính vì vấn đề ném bom Bắc Việt Nam mà toàn thế giới đã chống lại các ông”. Sự phản đối của nhân dân quốc tế và các giới chính trị, kinh tế đã tạo thành một sức ép mạnh mẽ, mang lại những thuận lợi tích cực cho ta trong cuộc đàm phán Paris và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Quang cảnh buổi lễ ký Hiệp định Paris về Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Đại lộ Kleber, ngày 27/01/1973. Ảnh tài liệu
Và cuối cùng, Hiệp định Paris khẳng định vai trò lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, phát huy sức mạnh dân tộc, giành thắng lợi vẻ vang.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công. Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam - một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi. Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Nụ cười chiến thắng của Cố vấn Lê Đức Thọ năm 1973. Ảnh tư liệu
Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước ta đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.
Hiệp định Pari năm 1973 là kết quả cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân cả hai miền đất nước, tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Hiệp định Pari về Việt Nam mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, thể hiện cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam được kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đồng thời, đó cũng là đỉnh cao thắng lợi của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu thể hiện trong suốt quá trình hoạt động đối ngoại qua các thời kỳ đấu tranh cũng như xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta về phát triển nền ngoại giao Việt Nam, nâng vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế lên những tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là hành trang quý giá để Việt Nam vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước trong giai đoạn mới.