“Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhàMiền Nam mong Bác, nỗi mong cha”
(Trích tác phẩm “Bác ơi” – Tố Hữu)
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho miền Nam một tình cảm sâu đậm và sự quan tâm đặc biệt. Người coi miền Nam là "máu thịt" của Việt Nam và luôn đau đáu nỗi niềm về sự chia cắt của đất nước. Trong những dòng nhật ký và thư từ, Bác thường xuyên nhắc đến miền Nam với tình cảm yêu thương và niềm tin vào sự thống nhất của đất nước.
Bác từng nói quê Bác ở Nam Đàn, Nghệ An, nhưng mẹ Bác mất ở xứ Huế, cha Bác mất ở Cao Lãnh. Quê Bác trải dài đất nước, ở những nơi như Phan Thiết, Sài Gòn trước lúc ra nước ngoài, Bác đã từng sống và từng đến nơi. Nhưng nay về nước đã bao nǎm rồi, mà Bác vẫn chưa về đến chốn. Suốt mấy chục năm, không một phút nào là Bác không nghĩ đến đồng bào miền Nam, người luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam.
Hình ảnh mộ Thân sinh và Thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Cao Lãnh, Đồng Tháp và Nam Đàn, Nghệ An. Ảnh Internet
Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải trước năm 1975. Ảnh tư liệu
Không một lời nào, không một từ nào và không có một cách nói nào để có thể kể hết được cái tình của Bác với miền Nam. Tấm lòng thương nhớ đó của Người thể hiện trong việc chǎm sóc các cháu thiếu nhi miền Nam tập kết. Đặc biệt là tình cảm của Bác dành cho cán bộ chiến sĩ miền Nam, những người đang chiến đấu trên tuyến đầu chống Mỹ.
Bác Hồ tại phát biểu tại một Đại hội năm 1956. Ảnh tư liệu
Và càng nhớ thương đồng bào miền Nam bao nhiêu, thì Người càng vui mừng bấy nhiêu khi được gặp đại biểu của miền Nam.
Tháng 2/1962, khi Người được gặp Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thǎm miền Bắc. Trong không khí xúc động nghẹn ngào, Bác ôm hôn đồng chí Nguyễn Văn Hiếu mà tưởng như đang ôm cả miền Nam vào lòng. Người hỏi thăm cặn kẽ tình hình đời sống, tinh thần chiến đấu của đồng bào miền Nam. Thay mặt các đại biểu, đồng chí Nguyễn Văn Hiếu báo cáo tình hình mọi mặt của miền Nam và gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh món quà của đồng bào miền Nam, gồm: Bản Cương lĩnh của Mặt trận; tập thơ của một chiến sĩ đã hy sinh trong nhà tù Mỹ - Diệm; tập ảnh về phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam và một lọ hoa do đồng bào làm bằng vỏ đạn đại bác Mỹ. Khi nhận quà, Người xúc động nói " Bác chẳng có gì tặng lại cả, chỉ có cái này " và đưa tay mình lên ngực, nơi trái tim đang khắc khoải nỗi nhớ miền Nam, rồi cảm động nói: “ Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”.
Bác Hồ với các cháu dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc (13-2-1969). Ảnh tư liệu.
"Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi" là một biểu tượng sâu sắc về tình cảm và sự quan tâm đặc biệt mà Người dành cho đồng bào miền Nam. Câu nói này không chỉ là một lời nói, một tấm lòng, một tình yêu thương bao la Bác dành cho miền Nam mà ở đó còn thể hiện tình cảm sâu đậm và sự quan tâm đặc biệt của Người đối với mảnh đất thành đồng Tổ quốc.
Bác coi miền Nam là "máu thịt" của Việt Nam và luôn đau đáu nỗi niềm về sự chia cắt của đất nước. Trong những dòng nhật ký và thư từ, Bác thường xuyên nhắc đến miền Nam với tình cảm yêu thương và niềm tin vào sự thống nhất của đất nước.
Tháng 9/1954, trong thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Đến ngày hòa bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập, dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó, rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta". Và đặc biệt sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Bác càng nung nấu một ý muốn cháy bỏng là phải vào bằng được Nam Bộ với đồng bào, đồng chí miền Nam đang chiến đấu. Nhưng những năm sau này, khi sức khỏe của Bác có phần giảm sút đi nhiều, lo lắng ý định không thể thực hiện được, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đề nghị được vào miền Nam để gặp gỡ đồng bào, động viên chiến sỹ. Ngày 10/3/1968, trong “Bức thư gửi đồng chí Lê Duẩn”, bác viết:
“Chú Duẩn thân mến! Nhớ lại hồi Nôen năm ngoái, chú có ý khuyên Bác đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn, Bác rất tán thành. Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ trước ngày thắng lợi hoàn toàn...”.
Trong thư Bác còn nêu rõ kế hoạch chi tiết mà Bác đã vạch sẵn để có thể vào với đồng bào an toàn. Đó là kế hoạch Bác sẽ đi bằng tàu thủy, giả làm thủy thủ trên tàu. Cùng đi có “chú Bảo và Kỳ”. Bác tính toán vượt biển mất độ 6 ngày và 10 ngày để chuẩn bị. Thời gian thăm miền Nam Bác lên kế hoạch “ít là mấy ngày, nhiều nhất cũng chỉ trong một tháng”...
Thư Bác Hồ viết cho Tổng Bí thư Lê Duẩn nói về kế hoạch đi thăm đồng bào miền Nam của Bác vào đầu năm 1968. Ảnh Báo Tuổi trẻ
Nhưng ước nguyện tha thiết của Bác được đi thăm đồng bào miền Nam không thể được thực hiện bởi Bộ Chính trị không yên tâm về sức khỏe và sự an toàn cho Người. Và cuối cùng, cho đến lúc đi xa, tâm nguyện của người vẫn đang còn dang dở.
"Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi" Không chỉ dành tình yêu thương và quan tâm đối với đồng bào miền Nam, mà ở đó còn có sự đồng cảm và sẻ chia sâu sắc với những khó khăn mà đồng bào miền Nam phải trải qua trong chiến tranh.
Người thấu hiểu được nỗi đau của những người con miền Nam khi phải sống trong cảnh chia ly, mất mát và hy sinh. Người luôn động viên, khích lệ đồng bào miền Nam vượt qua mọi thử thách và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước.
“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"
Mong muốn lớn nhất của Bác là nhìn thấy đất nước Việt Nam thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà. Bác Hồ luôn tin tưởng vào lòng yêu nước và ý chí quật cường của đồng bào miền Nam, tin vào sự kiên trung, bất khuất của người dân miền Nam trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm và Bác luôn tin dù trải qua bao nhiêu gian khổ, cuộc kháng chiến của dân tộc ta nhất định thắng lợi và Bắc - Nam sẽ liền dải non sông. Cho đến lúc đi xa Người vẫn mang trong mình hơi ấm của Miền Nam.
Bác Hồ và cây vú sữa miền Nam. Ảnh tài liệu
Trong Di chúc thiêng liêng, Bác viết: "“Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.
Bản Di chúc đã được Bác chỉnh sửa cẩn thận nhiều lần. Ảnh chụp lại từ tài liệu
Lời căn dặn đó của Người thể hiện niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Và đáp lại tình cảm của Bác, nhân dân miền Nam cùng với quân dân cả nước chiến đấu anh dũng, kiên cường, làm nên một trang sử vàng chói lọi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước bằng chiến thắng mùa Xuân năm 1975.
Dù Bác đã đi xa như câu nói “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi" của Người vẫn còn là một biểu tượng cao đẹp về tình cảm và sự quan tâm đặc biệt mà Người dành cho đồng bào miền Nam. Câu nói này không chỉ là một lời nói, mà là cả một tấm lòng, một tình yêu thương bao la mà Bác dành cho miền Nam, cho dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các Anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc. 28/2/1969. Ảnh: Tư liệu
Đại hội liên hoan Dũng sỹ diệt Mỹ lần thứ nhất của huyện Củ Chi, năm 1966. Ảnh Tư liệu.
Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ, Phó Chủ tịch Mặt trận Phùng Văn Cung, Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Định với các đại biểu tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ các Lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam Việt Nam lần thứ hai, tổ chức tại Vùng giải phóng (tháng 9/1967). Ảnh: Minh Hòa – TTXVN.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Đoàn đại biểu Anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. 11/11/1965. Ảnh: Tư liệu/TTXVN
Ngày đất nước thống nhất, hàng ngàn người con trong đó có đồng bào miền Nam đến thăm lăng Bác. Ảnh Internet
Lễ diễu binh trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh dịp kỷ niệm 70 Năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 9-2015). Ảnh Báo QĐND
* Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Hậu phương là nơi dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội, khoa học - kỹ thuật, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần, nơi cổ vũ động viên chiến thắng của tiền tuyến, là nhân tố hết sức quan trọng, mang tính quyết định sự thành bại của chiến tranh. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, hậu phương luôn đóng vai trò hết sức to lớn và có vị trí mang tính quyết định thành, bại của cuộc kháng chiến. Đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng càng lâu dài, gian khổ càng ác liệt thì vai trò của hậu phương càng trở nên quan trọng
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo trong một phiên họp tại chiến khu. Ảnh tư liệu
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đặc biệt chống Mỹ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương, coi đó là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước. Người từng nói “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương”
Xuất phát từ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Hậu phương, tại Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (9-1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta, nền có vững nhà mới chắc, gốc có mạnh cây mới tốt và tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), Đảng ta đã chủ trương tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc - cuộc cách mạng gắn bó chặt chẽ với cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam, giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng chung cả nước.
Đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc. Ảnh tài liệu
Trong bối cảnh năm 1965, khi đế quốc Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, Trung ương Đảng tiếp tục xác định, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Và vai trò đó được thể hiện ở các nội dung sau:
Đầu tiên, Miền Bắc là nơi cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Trong lịch sử hào hùng hàng ngàn năm của dân tộc, Ông cha ta xưa kia đã coi trọng việc xây dựng "chỗ đứng chân" hậu phương vững chắc của chiến tranh, lấy đó làm căn cứ để mưu cầu nghiệp lớn; đã chú trọng đến điều kiện nhân hòà, địa lợi và tình huống cụ thể của từng thời kỳ lịch sử khác nhau để chọn vùng khai thác sức người, sức của trong nhân dân, tạo tiềm lực cho việc xây dựng và phát triển lực lượng, nêu rõ địa lợi, nhân hoà gắn với nhau, trong đó nhân hòa là cơ bản, cùng với địa lợi tạo nên sức mạnh và tiềm năng của đấu tranh vũ trang và kháng chiến chống xâm lược. Kế thừa và phát huy truyền thống đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc đã thực hiện tốt vai trò của một hậu phương, cung cấp sức người, sức của để đáp ứng nhu cầu của tiền tuyến Miền Nam.
Đối với sức của, miền bắc đã sản xuất và cung cấp một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho tiền tuyến, cụ thể:
Trong 5 năm từ năm 1961 đến năm 1965, một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men… được chuyển vào chiến trường.
Sự chi viện của miền Bắc trong thời gian này là nhân tố quyết định đến thắng lợi của nhân dân miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ.
Một cảnh lao động tập thể của nông dân ở miền Bắc. Ảnh tư liệu
Nữ dân quân Hòa Lộc (Hậu lộc, Thanh Hóa) vừa chiến đấu giỏi, vừa sản xuất tốt, tháng 2/1968. Ảnh tư liệu
Với khẩu Khẩu hiệu của miền Bắc là “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”…bằng nỗ lực phi thường, miền Bắc đã khắc phục kịp thời hậu quả của những trận đánh phá khốc liệt, vượt qua những cuộc bao vây phong toả gắt gao của địch, đáp ứng đầy đủ nhu cầu to lớn và cấp bách ở chiến trường miền Nam.
Trong 4 năm từ năm 1965 đến năm 1968, miền Bắc đã đưa vào miền Nam hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men… Tính chung, trong vòng 4 năm, khối lượng vật chất đưa vào các chiến trường tăng gấp 1,6 lần so với 3 năm trước đó. Năm 1969, khối lượng hàng vận tải vào chiến trường qua tuyến 559 là 170.000 tấn.
Giai đoạn đầu mùa khô năm 1973 - năm 1974 đến đầu mùa khô năm 1974, miền Bắc đưa vào chiến trường hơn 26 vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, thuốc men, lương thực, thực phẩm.
Đường trường sơn huyền thoại, con đường huyết mạch vận chuyển cán bộ, vũ khí và những hàng hóa cần thiết chi viện cho chiến trường miền Nam. Ảnh tài liệu
Đến tháng 4-1975, miền Bắc đã chuyển giao khối lượng vật chất cho chiến trường đạt 119,9% kế hoạch, đưa khối lượng vật chất dự trữ ở chiến trường lên gần
255.000 tấn, trong đó có 93.540 tấn xăng dầu, 103.455 tấn vũ khí đạn dược. Ngoài vật chất hậu cần, kỹ thuật, hậu phương lớn miền Bắc còn đưa vào miền Nam gần 2000 tấn vật chất sinh hoạt đáp ứng kịp thời nhu cầu của bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng.
Nhân dân Đại Phong vui mừng đón nhận chiếc máy cày Bác Hồ tặng. Ảnh tư liệu
Và đề làm được điều đó, Đảng ta đã chủ trương xây dựng Miền bắc mạnh về kinh tế bởi kinh tế có phát triển, hậu phương mới có thể đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu ngày càng lớn của chiến tranh, mới đủ sức đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh để đi đến thắng lợi cuối cùng. Mặt khác, kinh tế có phát triển mới có điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân ở hậu phương mới duy trì và bồi dưỡng được sức dân trong điều kiện chiến tranh ác liệt kéo dài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự nỗ lực không ngừng của toàn quân, toàn dân, năm 1965, hậu phương miền Bắc xây dựng được 18.600 hợp tác xã bậc cao, trên 90% hộ nông dân vào hợp tác xã, gần 700 hợp tác xã đạt năng suất 5 tấn thóc trên một héc-ta mỗi năm. Về công nghiệp, toàn miền Bắc có 1.132 xí nghiệp, trong đó có 205 xí nghiệp trung ương. Tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm công - nông nghiệp từ 42,4% năm 1960 lên 53% năm 1965. 90% hàng tiêu dùng thiết yếu và một phần tư liệu sản xuất do các ngành công nghiệp trung ương và địa phương đảm bảo. Ngoài ra, hệ thống giao thông vận tải, bưu điện cũng được mở rộng và nâng cấp được trang bị thêm phương tiện, máy móc, thiết bị mới.
Chiếc ô tô ray đầu tiên mang tên Độc Lập, do Nhà máy Xe lửa Gia Lâm (Hà Nội)
nghiên cứu, thiết kế và chế tạo. Ảnh: TTXVN
Chuyển hàng xuống tàu chi viện cho chiến trường miền Nam. Ảnh tư liệu
Không chỉ huy động một lượng lớn của cải, vật chất, hậu phương lớn miền Bắc đã động viên một nguồn nhân lực lớn phục vụ cuộc kháng chiến. Trong một thời gian ngắn, hàng vạn nam, nữ thanh niên có trình độ văn hóa, giác ngộ chính trị, có sức khỏe được động viên vào lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong.
Dù biết ra trận sẽ có hy sinh, mất mát nhưng đối với thanh niên Miền Bắc khi đó, được đi bộ đội để cầm súng chiến đấu với kẻ thù là một lý tưởng sống. Để được vào Nam chiến đấu, được sống với lý tưởng của mình, nhiều thanh niên, học sinh miền Bắc đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ bằng máu để thể hiện quyết tâm và mong muốn được xã, huyện phê duyệt cho nhập ngũ.
Trong những năm tháng ấy, toàn miền Bắc đã huy động trên 3 triệu người phục vụ chiến tranh (chiếm trên 12% số dân miền Bắc), trong đó gia nhập quân đội trên 1,5 triệu người. Có tới trên 70% số hộ gia đình ở miền Bắc có người thân chiến đấu trên các chiến trường; trên đồng ruộng, phụ nữ chiếm trên 63% trong số lao động trực tiếp, để nam giới đi đánh giặc, cứu nước. Với tinh thần “Ba sẵn sàng”: Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm; Sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang; Sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến được ví như "mồi lửa" đã thắp sáng tinh thần cách mạng của thanh niên, học sinh, sinh viên miền Bắc trước khi lên đường vào Nam chiến đấu.
Các lực lượng vận tải, lực lượng bảo đảm giao thông, mở đường và các lực lượng bảo đảm khác... bao gồm hàng chục vạn người đều được động viên từ hậu phương lớn miền Bắc. Riêng năm 1972, miền Bắc đã động viên hơn 22 vạn thanh niên bổ sung cho lực lượng vũ trang, đưa vào chiến trường 3 nước Đông Dương nhiều đơn vị bộ đội được huấn luyện, trang bị đầy đủ.
Trong hai năm 1973 – 1974, miền Bắc đưa vào chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn, nhân viên kĩ thuật. Đột xuất trong năm 1975, miền Bắc đưa vào miền Nam 57.000 bộ đội.
Tiễn đưa thanh niên “Ba sẵn sàng” của khu Đống Đa (Hà Nội) lên đường nhập ngũ, tháng 8/1964, sau khi Mỹ mở rộng đánh phá bằng không quân ra miền Bắc. Ảnh tư liệu TTXVN
Lễ xuất phát của đoàn thanh niên xung phong Hà Nội lên đường chống Mỹ, cứu nước, tổ chức ở Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 11/7/1969. Ảnh tư liệu TTXVN
Thanh niên Thủ đô tham gia phong trào “Ba sẵn sàng”. Ảnh tài liệu
Không chỉ chi viện sức người, sức của, Miền bắc còn là nơi bảo vệ và xây dựng lực lượng, cũng là nơi giữ vững niềm tin và ý chí chiến đấu
Sức mạnh của hậu phương không chỉ về kinh tế mà còn gồm quân sự. Công cuộc xây dựng quân sự ở hậu phương được Đảng ta thường xuyên quan tâm. Bộ đội chủ lực miền Bắc từ 16 vạn (năm 1960) tăng lên 27 vạn (năm 1965). Bộ đội địa phương tăng từ 18.000 (năm 1959) lên 46.000 (năm 1965). Năm 1962, có gần 1 triệu người đăng ký ngạch dự bị. Năm 1960, dân quân tự vệ có khoảng 1 triệu người, đến năm 1965 đã có gần 1,7 triệu người được huấn luyện theo định kỳ, đảm nhận vai trò nòng cốt trong bảo đảm trật tự trị an, xung kích trong lao động, chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại các địa phương. Vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang được đổi mới, ngày càng hiện đại. Qua nhiều cuộc diễn tập hiệp đồng quân - binh chủng, hỏa lực và sức cơ động của bộ đội được tăng cường và không ngừng phát triển.
Bên cạnh đó, sản xuất quốc phòng ở hậu phương miền Bắc cũng hết sức được coi trọng. Khi mới giải phóng, với nền công nghiệp nhỏ bé, Đảng ta kịp thời chỉ đạo chuyển hướng sản xuất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, lấy nhiệm vụ sản xuất ra các mặt hàng quân trang, quân dụng cung cấp cho chiến trường, như đạn dược, thuốc men, vải mặc… làm trọng. Được sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nền công nghiệp quốc phòng của miền Bắc ngày càng phát triển. Nhiều nhà máy được đầu tư, nâng cấp đã sản xuất ra một số chủng loại vũ khí bộ binh, trang thiết bị phụ tùng và các mặt hàng quốc phòng thiết yếu đáp ứng nhu cầu của các quân chủng, binh chủng và sự phát triển nhanh của các đơn vị bộ đội chủ lực.
Bộ đôi Tên lửa trong 12 ngày đêm “ Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh TTXVN
Kẻ thù luôn tìm cách phá hoại hậu phương chiến lược của ta, hòng thu hẹp, gây rối loạn, mất ổn định, làm giảm sức mạnh chi viện, hậu thuẫn cho chiến trường. Cùng với các thủ đoạn quân sự, địch còn dùng các thủ đoạn chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng rất thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng ta đã xác định, việc bảo vệ tốt địa bàn là cơ sở để bảo đảm cho hậu phương có một đời sống kinh tế - xã hội ổn định, nhân dân phấn khởi tin tưởng là điều kiện để tiến hành kiến thiết hậu phương và huy động sức mạnh cho chiến trường. Ngược lại, khi nào hậu phương không giữ được ổn định chính trị - xã hội, không bảo vệ vững chắc địa bàn, cuộc sống nhân dân bị đe dọa thì khi đó, không thể tập trung sức lực và trí tuệ, không thể tạo nên sức mạnh to lớn chi viện cho chiến trường. Và tại miền bắc, các hệ thống công trình phòng thủ quân sự được tiến hành xây dựng vững chắc, bảo vệ an toàn cho các cơ quan Trung ương Đảng, Nhà nước và các cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng.
Trong hai lần chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi hơn 4.000 máy bay các loại; bắn cháy, bắn chìm hàng trăm tàu chiến; tiêu diệt và bắt sống hàng chục toán gián điệp, biệt kích, thám báo để bảo vệ vững chắc hậu phương đặc biệt làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972. Nhờ bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã đập tan ý chí xâm lược của Mĩ, góp phần giữ vững sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, bảo đảm chi viện liên tục cho chiến trường, đồng thời cổ vũ bộ đội ở tiền tuyến hăng hái chiến đấu lập nhiều chiến công.
Xác máy bay Mỹ bị bắn rơi ở ngoại thành Hà Nội, tháng 12-1972. Ảnh: TTXVN
Trong khói lửa chiến tranh, miền bắc thật sự vừa là tiền tuyến đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhưng cũng đồng thời là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho những người ra trận, cho đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta đang ngày đêm chiến đấu ở miền nam, đặc biệt trong những lúc cách mạng miền nam bị tổn thất, gặp nhiều thử thách, khó khăn cụ thể miền Bắc đã tiếp nhận hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ, con em miền Nam tập kết ra miền Bắc học tập và công tác; đón tiếp gần 31 vạn thương binh và hơn 35 vạn lượt người từ tiền tuyến ra hậu phương chữa bệnh, học tập, phục hồi sức khỏe trở lại chiến trường.
Học sinh lớp sáu ở trường học sinh miền Nam số 19 tại Hải Phòng năm 1962. Họ nằm trong số 32.000 thanh thiếu niên trong Nam tập kết ra Bắc học tập suốt giai đoạn 1954- 1975. Ảnh tư liệu
Đây là chỗ dựa tinh thần, là nơi thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, là nguồn cổ vũ động viên to lớn đối với đồng bào miền Nam.
Nguồn chi viện cùng với thắng lợi trong chiến đấu và sản xuất của quân dân miền Bắc đã góp phần quyết định vào thắng lợi của quân dân miền Nam trong cuộc chiến đấu đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mĩ và giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đúng như sự khẳng định của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa, suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh giữ nước và cứu nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”.
Ngày nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhiều thuận lợi và thách thức đan xen, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong bối cảnh đó, tiến hành xây dựng và chuẩn bị hậu phương đất nước trên các mặt, phù hợp với yêu cầu và điều kiện mới của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ lúc nước chưa nguy”, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải tích cực, chủ động xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực trong đó tập trung quá trình tiến hành xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, kết hợp giữa xây dựng và và bảo vệ vững chắc hậu phương để đáp ứng kịp thời với các tình huống. Theo đó, cần chú trọng thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh việc quán triệt, thông tin, tuyên truyền, nâng cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội và toàn dân đặc biệt Lực lượng vũ trang về nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ.
Đây là nội dung quan trọng, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này; đồng thời, là biện pháp trực tiếp xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần của khu vực phòng thủ. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục quốc phòng và an ninh, làm cho toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ, cùng những khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đặt ra.
Đây cũng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Quá trình triển khai thực hiện phải chủ động phát hiện, chấn chỉnh và kiên quyết đấu tranh với tư tưởng, nhận thức lệch lạc, chủ quan, mất cảnh giác, tuyệt đối hóa kinh tế, xem nhẹ quốc phòng, an ninh và biểu hiện hình thức, thiếu quyết liệt. Đồng thời, vạch trần, đấu tranh có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về vấn đề này.
Hai là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ. Đây là nguyên tắc, vấn đề quan trọng hàng đầu, nhân tố quyết định đảm bảo cho việc xây dựng khu vực phòng thủ tiến hành đúng hướng, đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Từ kinh nghiệm thực tiễn và bối cảnh hiện nay, hơn bao giờ hết, các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương, trực tiếp là các tỉnh, thành phố phải tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp, đảm bảo giữ vững nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp mọi mặt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung, xây dựng khu vực phòng thủ nói riêng. Trên cơ sở nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ, tiếp tục rà soát, bổ sung, đẩy mạnh thực hiện kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW gắn với thực hiện Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Luật Quốc phòng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chiến lược chuyên ngành vừa được ban hành, với lộ trình, biện pháp đồng bộ, khả thi cao, phù hợp đặc điểm, điều kiện của địa phương, cơ sở.
Bên cạnh đó cũng tăng cường phối hợp, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ của các địa phương; kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc nảy sinh, nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện, đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật, phù hợp với sự phát triển của thực tiễn, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thực hiện tốt nhiệm vụ phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ.
Ba là, đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, tạo nguồn lực vật chất, kỹ thuật xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc. Trong điều kiện khả năng kinh tế đất nước có hạn, song nhu cầu đầu tư cho xây dựng khu vực phòng thủ đòi hỏi rất lớn, các cấp, ngành, địa phương cần quán triệt, đẩy mạnh thực hiện chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh ngay từ trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ở các cấp, ngành, lĩnh vực, đảm bảo “mỗi bước tăng trưởng về kinh tế - xã hội là một bước củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh”.
Đồng chí Đại tướng Phan Văn Giang, UVBCT, Phó Bí thư QUTW, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiểm tra công tác SSCĐ. Ảnh Báo QĐND
Trong đó, ưu tiên phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng; thực hiện phân vùng, quy hoạch khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, quy hoạch thế trận quân sự khu vực phòng thủ gắn với xây dựng thế trận phòng thủ quân khu, kiên quyết không phát triển kinh tế bằng mọi giá. Đặc biệt, tiếp tục đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới, biển, đảo, nhằm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh nơi “phên giậu” Tổ quốc. Các địa phương cần chủ động cân đối, phân bổ hợp lý các nguồn lực, có kế hoạch bảo đảm ngân sách cho xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là xây dựng thế trận quân sự, tương xứng với tốc độ phát triển và tiềm lực kinh tế của địa phương. Quá trình thực hiện, cần đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên xây dựng các công trình thiết yếu trong căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, khu vực phòng thủ then chốt, sở chỉ huy các cấp, chốt chiến dịch; gắn với phòng thủ dân sự, tạo lập thế trận rộng khắp, liên hoàn, vững chắc giữa các khu vực phòng thủ với phòng thủ quân khu và trên từng hướng chiến lược, sẵn sàng cho các tình huống quốc phòng, an ninh.
Hệ sinh thái sản phẩm xây dựng theo mô hình tác chiến C5ISR hiện đại nhất thế giới được trưng bày tại Triển lãm quốc phòng quốc tế Việt Nam năm 2024. Ảnh Báo QĐND
Bốn là, tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ. Lực lượng vũ trang địa phương vừa là chủ thể tiến hành, vừa là một thành tố quan trọng trong xây dựng khu vực phòng thủ. Bởi vậy, cần chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương “tinh, gọn, mạnh”, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, đủ khả năng làm nòng cốt trong xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ và phòng thủ quân khu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó tập trung chỉ đạo cơ quan quân sự địa phương thực hiện tốt vai trò chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ. Chú trọng tham mưu cho địa phương tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng; đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, cốt lõi là xây dựng “thế trận lòng dân”, quy hoạch, đầu tư xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.
Cùng với đó, cần chủ động khảo sát, xây dựng kế hoạch động viên cho quốc phòng; làm tốt việc chỉ đạo, hướng dẫn các ngành, địa phương xây dựng kế hoạch bảo đảm nhu cầu quốc phòng năm đầu chiến tranh, đảm bảo khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế, v.v. Tiếp tục phát huy chức năng “đội quân công tác”, tích cực thực hiện công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai; đẩy mạnh xây dựng, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng,… nhằm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên các địa bàn trọng điểm, hướng chiến lược của đất nước.
Cán bộ, chiến sỹ BĐBP đồng hành cùng ngư dân. Ảnh internet
Đặc biệt, thường xuyên nêu cao cảnh giác cách mạng, mài sắc ý chí chiến đấu, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, chủ động nắm, dự báo chính xác tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp có đối sách xử lý phù hợp, không để bị động, bất ngờ, trong mọi tình huống.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đã thành công trong việc xây dựng hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa để chi viện đắc lực cho công cuộc giải phóng miền Nam. Và miền Bắc đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước, để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị, theo dòng chảy của lịch sử, những kinh nghiệm quý báu này đã, đang và sẽ tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
MỘT SỐ TƯ LIỆU LIÊN QUAN
I. QUY MÔ BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHIẾN DỊCH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hậu cần đã bảo đảm cho 58 chiến dịch và hoạt động tác chiến có quy mô chiến dịch, trong đó:
Về loại hình:+ 42 chiến dịch tiến công (trong đó có 5 chiến dịch tiến công hỗn hợp)+ 9 chiến dịch phản công.+ 2 chiến dịch phòng ngự.+ 2 chiến dịch và hoạt động tác chiến của quần chúng.+ 3 cuộc hành quân cơ động đường dài cấp quân tiến công hỗn hợp)+ 9 chiến dịch phản công.+ 2 chiến dịch phòng ngự.+ 2 chiến dịch và hoạt động tác chiến của quần chúng.+ 3 cuộc hành quân cơ động đường dài cấp quân đoàn (chiến dịch).Về quy mô:+ 1 chiến dịch nhiều quân đoàn.+ 7 chiến dịch cấp quân đoàn tăng cường.+ 20 chiến dịch và hoạt động tác chiến cấp quân đoàn hoặc nhiều sư đoàn.+ 22 chiến dịch cấp sư đoàn tăng cường hoặc cấp sư đoàn+ 8 chiến dịch từ 2-3 lữ đoàn
(Trích Sách: “50 năm Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ Dạy” - NXB QĐND Hà Nội -2000)