Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi tiêu biểu, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ và tay sai. Những chiến thắng này không chỉ có ý nghĩa lịch sử to lớn mà còn là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần cho toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Chiến thắng Ấp Bắc (1963):
Thắng lợi của cao trào Đồng Khởi những năm 1959 - 1960 của quân và dân miền Nam đã “Giáng một đòn bất ngờ vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức chính trị điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu Mỹ”, đánh bại cuộc chiến tranh “một phía” của Mỹ, đưa phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển mạnh mẽ, đồng thời đánh sập chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn Nam Bộ. Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ đã triển khai chiến lược quân sự toàn cầu mới do M. Taylo đề xướng mang tên “phản ứng linh hoạt”, trong đó có việc phát triển lực lượng thông thường, tiến hành “chiến tranh hạn chế”.
Cuối năm 1960, do tình hình cách mạng miền Nam phát triển mạnh, có nguy cơ uy hiếp chính phủ Ngô Đình Diệm, chính quyền tổng thống Mỹ Kennơđi chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” để đối phó. Cuối tháng 7 năm 1961, “phái đoàn kinh tế đặc biệt” thuộc Viện nghiên cứu Stanphót do E. Stalây đệ trình kế hoạch Stalây - Taylo “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng với ba giai đoạn, nhằm tiêu diệt cách mạng miền Nam. Để thực hiện kế hoạch trên, Mỹ đã tăng viện trợ quân sự, cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ; tổ chức miền Nam thành các quân khu, vùng chiến thuật, khu chiến thuật; đồng thời đẩy mạnh dồn dân, lập “ấp chiến lược” nhằm triệt phá các cơ sở du kích, triển khai các chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, bủa lưới phóng lao... Chúng tăng cường mở các cuộc hành quân càn quét, dùng bom đạn, chất độc khai quang đánh vào các vùng giải phóng, căn cứ kháng chiến của ta.
Tháng 01/1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị Về phương hướng, nhiệm vụ, công tác trước mắt của cách mạng miền Nam; chủ trương “đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự”; phát động chiến tranh du kích, phá ấp chiến lược, xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh binh vận, địch vận, tiến tới tổng khởi nghĩa lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, chấp hành chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, ngày 15/02/1961, các lực lượng vũ trang miền Nam được thống nhất, lấy tên là Quân giải phóng miền Nam. Tiếp đó, Trung ương cục thành lập các trung đoàn chủ lực; phát triển lực lượng du kích, bộ đội địa phương; tổ chức hệ thống chỉ huy từ Miền xuống tỉnh, huyện, xã; xây dựng và mở rộng vùng giải phóng, vùng căn cứ nhằm tạo thế đứng chân vững chắc cho lực lượng cách mạng miền Nam, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp phương châm “hai chân”, “ba mũi”; đồng thời, thực hiện chuyển từ khởi nghĩa vũ trang sang chiến tranh cách mạng, đẩy mạnh tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị, làm thất bại các chiến lược chiến tranh của địch, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
* Đặc điểm tình hình và sự chuẩn bị của ta
Địa bàn Ấp Bắc gồm hai ấp nhỏ là Tân Bình và Tân Thới, thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), cách thị xã Mỹ Tho khoảng 16km; được bao bọc bởi đồng lúa, sình lầy và kinh (kênh) rạch. Phía Nam cách Lộ 4 (nay là Quốc lộ 1) khoảng 5km, phía Tây cách 6km là Lộ 12, cách 2- 3km về phía Bắc và phía Đông là kinh Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Tấn Thành. Ấp Tân Bình và Tân Thới nối liền, tạo thành vòng cung với chiều dài khoảng 4km, rộng khoảng 400m, phía trước là cánh đồng rộng 550m, thuận tiện cho việc đổ quân và xe cơ giới cơ động. Trong ấp là nhà dân xen kẽ các vườn cây ăn trái, có các gò đất nhô ra, tạo điều kiện cho bộ đội, du kích bố trí các cụm hỏa lực. Ấp Bắc cũng là mảnh đất có truyền thống cách mạng, nhân dân tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ từ những năm 1940. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi này là căn cứ địa, một trong những lá cờ đầu của phong trào đấu tranh. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ấp Bắc là địa bàn thuộc vùng giải phóng liên hoàn, nơi đóng quân của lực lượng vũ trang cách mạng.
Sau khi đánh thắng các trận càn của địch ở Vĩnh Kim (ngày 23/9/1962), Mỹ Hạnh Trung (ngày 5/10/1962), Tiểu đoàn 514 của Mỹ Tho và Tiểu đoàn 261 của Quân khu 8 hành quân về khu vực Ấp Bắc để huấn luyện cách đánh máy bay trực thăng, xe bọc thép, cách bố trí trận địa, xây dựng hệ thống công sự, trận địa trong làng, xã chiến đấu. Phối hợp với bộ đội địa phương và nhân dân huyện Châu Thành nghiên cứu, tổ chức phá ấp chiến lược Giồng Dứa, xã Long Định; chuẩn bị kế hoạch đánh địch phản kích và nhử địch càn vào cầu Kinh Năng để tiêu diệt.
Về tình hình địch, khi nhận được tin qua mạng lưới trinh sát, điệp báo, chúng phát hiện lực lượng của ta đang bố trí tại Ấp Bắc, Bộ Tư lệnh Viện trợ Mỹ tại Sài Gòn đứng đầu là tướng P.Háckin cùng Bộ Tư lệnh hành quân của quân lực Việt Nam Cộng hòa (MACV) cấp tốc vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng, phương tiện chiến tranh, tổ chức cuộc hành quân càn quét mang mật danh “Đức Thắng 1 - 63” nhằm tiêu diệt và bắt Việt cộng trong khu vực Ấp Bắc.
Để tạo ưu thế tuyệt đối về sức mạnh, chúng huy động 3 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 7 bộ binh, 1 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn dù Sài Gòn, 2 đại đội biệt động quân, 3 đại đội bảo an, 3 đại đội dân vệ biệt kích, 13 xe thiết giáp M113, 13 tàu chiến trên sông, 6 máy bay khu trục B26, 15 máy bay trực thăng (10 CH21, 5 UH1A), 4 máy bay trinh sát L19, 7 máy bay vận tải C47, với sự chi viện của các trận địa pháo binh thuộc Sư đoàn 7 bố trí trên Lộ 4, Long Định, Phước Mỹ Tây.
Chiến thuật “Trực thăng vận” của Mỹ và Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu
Nhận được tin địch sẽ tổ chức cuộc càn quét vùng giải phóng thuộc 2 huyện Cai Lậy và Châu Thành, Khu ủy Khu 8 đã điều động Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 261 và Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 514, 1 khẩu đội cối 60 ly, trung đội bộ đội huyện Châu Thành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh thắng cuộc càn quét của địch vào Ấp Bắc. Tổ chức củng cố, cải tạo hệ thống công sự, trận địa sẵn có, dự kiến các phương án đánh máy bay, xe bọc thép; chuẩn bị nơi trú ẩn cho người già, phụ nữ, trẻ em trong ấp. Đến 20 giờ ngày 01/01/1963, mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành.
* Diễn biến và kết quả trận Ấp Bắc
Trận Ấp Bắc kéo dài khoảng 20 giờ. Rạng sáng ngày 02/01/1963, máy bay trinh sát L19 của địch bay lượn trên bầu trời Ấp Bắc dẫn đường cho bộ binh và cơ giới. Các lực lực lượng bộ binh, thiết giáp, tàu chiến chia làm 3 mũi bao vây, thực hành càn quét vào Ấp Bắc.
Một mũi gồm 2 đại đội bảo an từ Điền Hy theo Lộ 4, bắt đầu xung phong vào xóm Hội Đồng Vàng, xã Tân Phú. Nắm chắc thời cơ, bộ đội và du kích bất ngờ nổ súng, tiêu diệt tên sĩ quan đại đội cùng hàng chục lính bảo an. Số khác bị sa xuống hố chông, vướng bẫy, vướng mìn nổ làm cho địch hoảng loạn; lực lượng còn lại vội vã co cụm bắn loạn xạ hoặc tháo chạy.
Cùng thời gian trên, mũi khác từ Cầu Sao bí mật cơ động tiếp cận khu vực miếu Thầy Lơ, thực hiện đánh xuyên sườn phòng ngự của ta. Lực lượng ém sẵn của ta đã kịp thời tổ chức đánh chặn, tiêu diệt bộ phận đi đầu, sau đó bí mật vận động, xung phong tiêu diệt bộ phận lớn sinh lực địch vừa tháo chạy ra cánh đồng trống. Bị đánh bất ngờ, lực lượng địch còn lại tháo chạy về miếu Thầy Lơ cố thủ. Trước tình hình đó, sở chỉ huy hành quân của địch ra lệnh cho pháo binh yểm trợ lực lượng rút chạy nhưng lại bắn trúng đội hình bộ binh, gây thêm thương vong cho chúng.
Cùng hai mũi trên bộ, mũi đường thủy theo kênh Nguyễn Tấn Thành gồm 13 tàu chiến chở 2 đại đội biệt động quân đánh vu hồi vào sau đội hình của ta ở Ấp Bắc. Ta sử dụng trung đội du kích và 2 đội công binh chặn đánh quyết liệt, đánh chìm 1 tàu và đánh hỏng một số chiếc khác. Được tin 2 mũi trên bộ gặp nguy, đoàn tàu chững lại rồi tìm đường tháo lui.
Sau đợt tiến công đường bộ và đường thủy không thành, chỉ huy cuộc hành quân của địch quyết định sử dụng chiến thuật trực thăng vận, dùng 5 trực thăng vũ trang UH1A yểm trợ cho 10 trực thăng chở quân CH21 đổ 2 tiểu đoàn bộ binh xuống sau ấp, hình thành hai gọng kìm bao vây lực lượng của ta.
Dự đoán trước âm mưu, thủ đoạn của địch, nắm chắc thời cơ, quân ta bất ngờ nổ súng bắn rơi tại chỗ 1 chiếc CH21; chiếc khác trúng đạn, cố bay ra khỏi vùng trời Ấp Bắc thì bị rơi. Để cứu nguy cho bộ binh, địch dùng 5 chiếc trực thăng vũ trang UH1A và pháo binh điên cuồng bắn phá vào trận địa. Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 đã anh dũng chiến đấu bắn rơi tại chỗ 2 chiếc UH1A, bắn hỏng 1 chiếc CH21 đang đổ quân và rơi cách đó khoảng 400 mét.
Bị thất bại nặng nề trong chiến thuật trực thăng vận và qua hai đợt tiến công không thành khiến tâm lý binh lính địch hoang mang cực độ, buộc địch phải rút quân về thị xã Mỹ Tho để củng cố lực lượng và phương tiện.
Vào lúc 12 giờ 15 phút, sau khi tập kết đủ 3 tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 11, 12 của Sư đoàn 7, địch hình thành hai mũi tiến quân vào ấp Tân Thới, được hỏa lực pháo binh và trực thăng vũ trang yểm trợ tối đa, tiến vào khu vực trận địa của Đại đội 1, Tiểu đoàn 514 Mỹ Tho. Đợi cho quân địch lọt hẳn vào trận địa mai phục, bộ đội và du kích bất ngờ nổ súng, tiêu diệt và làm bị thương khoảng 1 trung đội địch, số còn lại cố chạy thoát thân.
Để phối hợp với quân và dân Ấp Bắc, Thường vụ Tỉnh ủy và Ban quân sự Mỹ Tho sử dụng Đại đội 2, Tiểu đoàn 514 tiến công trường bắn Tân Hiệp, kìm chân địch trên Lộ 4, dùng trinh sát khống chế sân bay Thân Cửu Nghĩa. Đại đội 211B chốt giữ Ngã ba chùa Phật Đá, sẵn sàng chi viện cho Ấp Bắc.
Sau thất bại liên tiếp của 3 đợt tấn công, chỉ huy quân địch quyết định sử dụng không quân dội bom napan, xăng đặc, bắn đạn cháy, rốckét... nhằm thiêu trụi các mục tiêu ở Ấp Bắc; sử dụng pháo binh bắn cấp tập vào các trận địa dọc hai bên lộ dẫn vào ấp. Vừa dứt hỏa lực dọn đường, 13 xe thiết giáp M113 và 1 tiểu đoàn bộ binh tổ chức đột kích chính diện Ấp Bắc. Với tinh thần “Kiên quyết bám trụ, bám trụ đến cùng”, 75 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 đã anh dũng chiến đấu, diệt 1 xe M113, bắn hỏng một số chiếc khác. Do súng đại liên bị hỏng, quân địch đã đột phá vào trận địa. Trước tình thế nguy nan, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 3 cùng 2 chiến sĩ đã bật khỏi công sự, dùng thủ pháo tiêu diệt 1 xe M113 và anh dũng hy sinh. Bị thương vong nhiều, địch hoang mang cực độ, buộc chỉ huy cuộc hành quân phải ra lệnh giãn đội hình, xốc lại lực lượng, phương tiện.
Khoảng 5 giờ chiều ngày 02/01/1963, địch tiếp tục mở đợt tiến công mới. Chúng sử dụng 7 máy bay vận tải CH47 chở Tiểu đoàn dù số 8 thả xuống ấp Tân Thới nhưng rơi vào trận địa phục kích của ta. Đại đội 1, Tiểu đoàn 514 nắm chắc thời cơ, bất ngờ nổ súng tiêu diệt quân dù ngay từ khi chúng chưa kịp xuống đất; số quân dù còn sống sót co cụm chờ ứng cứu. Cùng thời gian trên, trên hướng Đại đội 1, Tiểu đoàn 216, địch sử dụng xe M113 đột kích. Ta dùng súng phóng lựu bắn cháy 01 xe M113 và toàn bộ lính trên xe, buộc các xe khác phải dừng lại. Nhận thấy 2/3 lực lượng quân dù đổ xuống ấp Tân Thới bị thương vong nặng, lực lượng thiết giáp và bộ binh tấn công vào Ấp Bắc bị tổn thất lớn, mất sức chiến đấu; chỉ huy cuộc hành quân của địch đã cho lực lượng quân dù đổ bộ xuống khu vực Miếu Hội và lệnh cho các lực lượng rút lui.
* Kết quả trận Ấp Bắc
Sau một ngày chiến đấu kiên cường, căng thẳng, quyết liệt, quân ta đã đánh bại 5 đợt tiến công của Mỹ - ngụy, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao. Ban Chỉ huy trận đánh đã quyết định rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Ấp Bắc, về căn cứ tỉnh ở Hưng Thạnh để bảo toàn lực lượng. Trong trận chiến đấu ác liệt này, quân và dân Ấp Bắc đã mưu trí, anh dũng, tiêu diệt và làm bị thương 450 tên địch (trong đó có 11 cố vấn và nhân viên kỹ thuật Mỹ), bắn rơi 5 máy bay trực thăng, bắn hư hỏng nhiều chiếc khác; phá hủy 3 xe bọc thép M113, đánh chìm 01 tàu chiến trên sông. Bộ đội và du kích chỉ sử dụng khoảng 5.000 viên đạn các loại.
Trận chống càn Ấp Bắc đã mở đầu đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Ấp Bắc là một trận chiến đấu gay go, ác liệt nhất và cũng là một trận chống càn thắng lợi to lớn đối với phong trào chính trị, vũ trang, binh vận trong toàn miền Trung - Nam Bộ, đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của 3 thứ quân; đã gây tiếng vang lớn trong phong trào đấu tranh cách mạng của Khu 8 nói riêng và toàn chiến trường miền Nam nói chung.
Chiến thuật trực thăng vận của Mỹ trong trận Ấp Bắc. Ảnh Tư liệu
Máy bay và trận địa của địch bị Quân giải phóng tiêu diệt trong trận Ấp Bắc, tháng 1-1963. Ảnh: TTXVN
Thắng lợi trong trận Ấp Bắc không chỉ có ý nghĩa về chiến thuật mà còn có ý nghĩa quan trọng về chiến lược. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đánh bại các chiến thuật tân kỳ “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của quân đội Sài Gòn, đánh dấu sự phát triển về chất của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam; chứng minh quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đánh bại các chiến thuật chiến tranh hiện đại của Mỹ và chính quyền quân đội Sài Gòn.
Đặc biệt, Chiến thắng Ấp Bắc đã cổ vũ mạnh mẽ lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam. Ngày 25/3/1963, Trung ương Cục miền Nam quyết định phát động phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” trong toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam, đẩy mạnh tiến công địch giành thắng lợi to lớn hơn nữa, tiến lên đánh bại toàn bộ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.
Di tích Chiến thắng Ấp Bắc (Ảnh: Nguồn Internet)
Về phía địch, thất bại trong trận Ấp Bắc làm cho tinh thần quân đội Sài Gòn dao động mạnh, không còn tin tưởng vào chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” như trước nữa. Mỹ và chính quyền Sài Gòn tỏ ra lúng túng trước bước phát triển mạnh mẽ của cách mạng miền Nam cả về thế và lực. Thực tiễn đó là cơ sở quan trọng, vững chắc để Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước khí thế quật cường của nhân dân, thì chiến thuật mới và vũ khí mới nhất của Mỹ cũng phải thua”.
Với tầm vóc, ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt, Chiến thắng Ấp Bắc để lại những kinh nghiệm và bài học sâu sắc, vận dụng trực tiếp cho cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam, đó là: Bài học về nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, nhạy bén, sáng tạo trong đường lối, chủ trương, sách lược lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cuộc chiến tranh cách mạng; nêu cao tư tưởng chiến lược tiến công, vận dụng sáng tạo phương châm “hai chân, ba mũi”; xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; bài học về nắm chắc địch, đánh giá đúng so sánh lực lượng, đề ra phương pháp phát triển phù hợp; bài học về xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; xây dựng hệ thống trận địa, xây dựng làng xã chiến đấu...
Các chiến sĩ Tiểu đoàn Mỹ Tho đánh thắng trận Ấp Bắc được
mang tên Tiểu đoàn Ấp Bắc. Ảnh tư liệu: TTXVN
*Chiến thắng Bình Giã (1964)
Đầu năm 1964, trên chiến trường miền Nam, phong trào đấu tranh chính trị cùng với hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang địa phương đã làm thất bại một bước quan trọng quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn càng thêm sâu sắc; kế hoạch Xtalây- Taylo phá sản hoàn toàn. Với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, từ tháng 3-1964, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch mới, Kế hoạch Giônxơn - Mắc Namara, nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, hòng cứu vãn nguy cơ sụp đổ hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.
Quán triệt tinh thần Hội nghị lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch Đông Xuân 1964- 1965 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, lấy Bình Giã làm điểm quyết chiến của chiến dịch.
Chiến dịch Bình Giã được chia làm hai đợt: Đợt 1 từ ngày 2 đến ngày 17/12/1964; Đợt 2 từ ngày 27/12/1964 đến ngày 3/1/1965. Lực lượng tham gia chiến dịch của ta gồm 2 trung đoàn bộ binh (761 và 762); Đoàn pháo binh 563 của Miền (Tiểu đoàn 35 súng cối 81mm và ĐKZ 75mm, Tiểu đoàn sơn pháo 75mm, Tiểu đoàn 41 súng máy phòng không 12,7mm); 2 tiểu đoàn bộ đội tập trung (800 và 500) của Quân khu 7; Tiểu đoàn 186 bộ đội tập trung của Quân khu 6, Đại đội 445 và một số trung đội của các huyện thuộc tỉnh Bà Rịa.
Kết quả, ta đã loại khỏi chiến đấu trên 1.700 (có hàng chục cố vấn Mỹ), bắt gần 300 địch, trong đó diệt gọn Tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến 4, Tiểu đoàn biệt động quân 33 và một chi đoàn xe cơ giới M113 (thuộc Thiết đoàn 1), đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn khác và nhiều đại đội, bắn rơi, phá hỏng 56 máy bay, (chủ yếu là máy bay trực thăng), phá huỷ 45 xe quân sự (phần lớn là xe M113, trong đó có 2 xe tăng M41), thu hơn 1.000 súng các loại và gần 100 máy thông tin.
Lính Mỹ bị thương tháo chạy tại chiến trường Bình Giã. Ảnh tư liệu
Chiến dịch Bình Giã là chiến dịch tiến công đầu tiên của bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, góp phần vào việc chuyển hóa tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường, tạo ra thế và lực mới để đánh bại Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Thắng lợi của chiến dịch Bình Giã không chỉ đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân chủ lực miền Nam mà còn góp phần phát triển nghệ thuật chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nâng cao ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân ta, tạo tiền đề cho những thắng lợi tiếp theo của cuộc kháng chiến.
Tặng thưởng cờ Quyết chiến quyết thắng cho đơn vị chiến thắng Bình Giã. Ảnh tư liệu
Thắng lợi của chiến dịch Bình Giã đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về chiến thuật, đặc biệt là nghệ thuật “tạo thế, khơi ngòi” để điều viện binh địch. Việc chọn điểm “khơi ngòi” vào “ấp chiến lược” Bình Giã là một quyết định sáng suốt của Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch, bởi vì “ấp chiến lược” Bình Giã là một vị trí có giá trị cả về quân sự và chính trị; là một mắt xích trong hệ thống phòng thủ phía đông Sài Gòn. “Ấp chiến lược” Bình Giã được chính quyền Sài Gòn coi là ấp “kiểu mẫu”, vì ở đây tập trung phần lớn là gia đình hậu phương của các lực lượng biệt động quân và thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa cùng phần đông giáo dân bị địch lợi dụng chống phá ta. Vì vậy, khi ta đánh ấp Bình Giã, địch sẽ phản ứng ngay bằng cả đường bộ và đường không. Mặt khác, Bộ chỉ huy chiến dịch chọn “ấp chiến lược” Bình Giã phù hợp với trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực lúc đó. Nếu như chọn chi khu Xuyên Mộc làm điểm khơi ngòi của chiến dịch thì ta hoàn toàn bất lợi, bởi vì ở đó địch xây dựng công sự vững chắc, mà trình độ đánh công kiên của bộ đội ta còn hạn chế, nên khó chiếm được chi khu để kéo địch ra tiêu diệt. Thực tiễn diễn biến của chiến dịch đúng như nhận định và kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch. Khi “ấp chiến lược” Bình Giã bị tấn công, địch đã vội vã điều quân đến ứng cứu trong thế bị động, lúng túng. Ngược lại, lực lượng ta chủ động chặn đầu, khóa đuôi, bao vây, chia cắt, đánh cả phía trước, phía sau, bên sườn, đánh địch cả trên không, mặt đất tiến tới tiêu diệt gọn từng bộ phận. Ngoài việc tập trung lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu thì Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch đã phát động nhân dân nổi dậy, giành quyền làm chủ, giải phóng đất đai.
Chiến dịch Bình Giã tuy nhỏ, với quy mô liên trung đoàn, nhưng có ý nghĩa lớn về chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, có nghệ thuật đặc trưng, đó là nghệ thuật “tạo thế, khơi ngòi”, một cách đánh độc đáo và sáng tạo của quân chủ lực miền Nam. Thắng lợi của chiến dịch đã để lại những kinh nghiệm vô cùng quý báu cho chiến dịch sau này trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
*Chiến dịch Ba Gia (1965)
Chiến dịch Ba Gia hay còn gọi là chiến dịch Tây Sơn Tịnh diễn ra từ ngày 28/5 đến 20/7/1965, chia làm 3 đợt, trên địa bàn các huyện: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa và thị xã Quảng Ngãi. Trong đó Ba Gia là điểm then chốt, nhằm tiêu diệt tiểu đoàn ngụy và cố vấn Mỹ, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và Binh địch vận.
Chiến dịch diễn ra từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 20 tháng 7 năm 1965 trên địa bàn khu vực Ba Gia, xã Tịnh Bắc, huyện Sơn Tịnh (vùng đất nằm giữa hai con sông Trà Bồng và Trà Khúc) ở phía bắc tỉnh Quảng Ngãi. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận chủ lực ngụy quân Sài Gòn (Trung đoàn 51 bộ binh), hỗ trợ phong trào địa phương nổi dậy phá ách kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng Sơn Tịnh - Bình Sơn, giữ vững giao thông nối liền các căn cứ ở vùng rừng núi Tây Nguyên với đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ.
Tháng 3 năm 1965, trước nguy cơ phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” trên chiến trường miền Nam cũng như ở chiến trường Khu 5, để cứu vãn sự sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, Mỹ quyết định đưa Sư đoàn Lính thủy đánh bộ 3 vào đóng giữ cảng Đà Nẵng và thiết lập căn cứ ở Chu Lai.Lực lượng ngụy quân Sài Gòn làm nhiệm vụ đóng giữ và bảo vệ các căn cứ quân sự và chi khu, quận lỵ tại khu vực bắc Quảng Ngãi có Trung đoàn Bộ binh 51 thuộc Sư đoàn 25, Tiểu đoàn Thủy quân lục chiến 3, các tiểu đoàn biệt động quân 37, 39, một chi đoàn thiết giáp, 6 khẩu đội pháo 105mm, 1 tiểu đoàn và 15 đại đội bảo an.
Về phía ta, sau khi đánh bại cuộc càn quét lớn của ngụy quân Sài Gòn tại khu vực An Lão ở phía Tây Bắc tỉnh Bình Định, Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chủ trương tập trung lực lượng chủ lực mở đợt hoạt động Xuân - Hè năm 1965 trên ba hướng: Nam Tây Nguyên, Tây Gia Lai - Bắc Kon Tum và Bắc Quảng Ngãi, trong đó hướng trọng điểm là vùng đồng bằng Bắc Quảng Ngãi và thị xã Quảng Ngãi.
Đây là khu vực lực lượng địch tương đối đông, cứ điểm dày đặc, nhưng cũng là nơi địch chủ quan, sơ hở do không có hoạt động của bộ đội chủ lực ta kể từ mùa Thu năm 1964. Cùng với đó, nơi đây là địa bàn dân cư giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, lực lượng du kích tương đối mạnh, đồng thời là nơi tiếp giáp với căn cứ rừng núi, có nhiều thuận lợi cho ta khi giấu quân, cơ động lực lượng, giữ bí mật và nghi binh lừa địch.
Chiến sĩ Trung đoàn 1, Quân khu 5 dùng súng B-41 chiến đấu với địch trong Chiến dịch Ba Gia (tháng 5-1965). Ảnh tư liệu: Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi
Thực hiện chủ trương trên, tháng 5 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu 5 quyết định chọn khu vực Ba Gia - Sơn Tịnh ở phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi làm địa bàn chủ yếu để mở chiến dịch, với mục tiêu: Tiêu diệt một bộ phận chủ lực ngụy quân Sài Gòn, hỗ trợ phong trào địa phương nổi dậy phá ách kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng Sơn Tịnh - Bình Sơn, giữ vững giao thông nối liền các căn cứ ở vùng rừng núi Tây Nguyên với đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ.
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Trung đoàn Bộ binh 1, Tiểu đoàn Bộ binh 45 (mới từ hậu phương vào), 2 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm và 1 đại đội trinh sát bộ đội chủ lực quân khu; 2 tiểu đoàn (83, 48) bộ đội tỉnh, và 2 đại đội bộ đội huyện, cùng du kích các xã trên địa bàn. Chiến dịch do Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 Chu Huy Mân làm Tư lệnh, Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn Bộ binh 1 (Trung đoàn trưởng Lê Hữu Trữ, Chính ủy Nguyễn Đình Trọng) tổ chức và chỉ huy.
Phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch được xác định là lấy đánh vận động và đánh địch ngoài công sự làm chính, thực hiện đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn địch; đánh chắc thắng, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, đánh dài ngày; dùng cách tập kích địch ở ngoài căn cứ để khêu ngòi, tạo thế, tạo thời cơ để đánh viện; thực hiện đánh viện nhỏ để câu viện lớn, buộc địch phải phản ứng dây chuyền; tập trung đánh viện binh đường bộ là chủ yếu, đồng thời sẵn sàng đánh địch cứu viện bằng đường không. Chiến dịch diễn ra qua 3 đợt.
Đợt 1, từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 7 tháng 6 năm 1965: Tác chiến khêu ngòi, lập thế tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 51 bộ binh ngụy quân Sài Gòn, hoàn thành thắng lợi trận then chốt chiến dịch.
Đợt 2, từ ngày 10 tháng 6 đến ngày 25 tháng 6 năm 1965: Phát triển thắng lợi, đẩy mạnh tiêu diệt, phá kìm kẹp, tích cực hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.
Đợt 3, từ ngày 4 đến ngày 20 tháng 7 năm 1965, diệt đồn Ba Gia, tạo điều kiện mở mảng trên trục đường Trà Bồng - Bình Sơn.
Kết quả, ta đã tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn, diệt và làm tan rã 2 đại đội bảo an, 22 trung đội dân vệ. Loại khỏi vòng chiến đấu 2.200 tên địch, trong đó có 1 tên Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 51 bộ binh, 8 tên Thiếu úy, 3 tên Chuẩn úy và 30 tên hạ sĩ quan. Thu 973 khẩu súng các loại, nhiều quân trang, quân dụng, đạn dược. Phá hủy 15 xe vận tải quân sự, bắn rơi 15 chiếc máy bay các loại; hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của quần chúng ở 29 xã thuộc 6 huyện của tỉnh Quảng Ngãi; giải phóng 167.600 dân thoát khỏi sự kìm kẹp của địch.
Cùng với thắng lợi của các chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, Chiến dịch Ba Gia giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng miền Nam nói chung và Quân khu 5 nói riêng, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Tượng đài chiến thắng Ba Gia. Ảnh tư liệu
Lần đầu tiên trên chiến trường Khu 5, ta mở chiến dịch tiến công quy mô nhỏ mà đạt kết quả lớn (diệt 1 chiến đoàn, trong đó có 1 tiểu đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược ngụy quân Sài Gòn), thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của bộ đội chủ lực Quân khu 5 về nghệ thuật đánh tiêu diệt địch, khả năng thực hành và vận dụng hiệu quả nghệ thuật chiến dịch Việt nam trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
* Chiến thắng Đồng Xoài (1965)
Vào tháng 5/1965, Trung ương Cục, Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch Đồng Xoài với quy mô cấp tương đương sư đoàn tăng cường, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực tinh nhuệ của địch, hỗ trợ nhân dân đẩy mạnh chiến tranh du kích, nổi dậy phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng trên địa bàn các tỉnh Phước Long, Bình Long và phía Bắc tỉnh Bình Dương; phối hợp trên địa bàn bốn tỉnh Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa.
Chiến dịch được diễn ra quyết liệt, từ ngày 10-5 đến 22-7-1965, trên địa bàn rộng lớn gần 1.000km2 gồm các hướng chính là tỉnh Phước Long và tỉnh Bình Long. Chiến dịch được tổ chức thành 3 đợt tấn công.
Đợt 1: từ ngày 10-5 đến 15-5-1965, hướng tấn công là tỉnh Phước Long, trọng tâm là Chi khu Phước Bình.
Đợt 2 từ ngày 9-6 đến 12-6-1965: Quân ủy Miền và Bộ chỉ huy chiến dịch xác định khu vực quyết chiến sẽ diễn ra xung quanh Chi khu Đồng Xoài, lấy tiêu diệt Chi khu Đồng Xoài làm trận then chốt. Đêm 9-6, trong lúc ta đang triển khai đội hình chiến đấu thì một bộ phận bị lộ. Địch nổ súng trước và bắn về phía ta. Trận đánh kéo dài và trở nên ác liệt hơn do yếu tố bí mật của ta không còn. Đến 4 giờ sáng 10-6-1965, lực lượng ta làm chủ được Chi khu Đồng Xoài và khu biệt động. Trước tình thế đó, địch tăng cường chi viện: ngày 10-6-1965, địch đổ Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 ngụy xuống Thuận Lợi với ý định hành quân bộ xuống cứu viện cho Chi khu Đồng Xoài. Sáng 11-6-1965, địch lại đổ tiếp Tiểu đoàn 7 dù và Tiểu đoàn 46 biệt động quân cùng 1 Đại đội pháo 105 xuống Đồng Xoài. Thực hiện quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch, ta triển khai thực hiện chiến thuật “đánh điểm, diệt viện” nhằm khống chế không cho máy bay địch đổ quân. Đến ngày 12-6, nhiệm vụ đánh diệt Chi khu Đồng Xoài và diệt viện binh địch xung quanh Chi khu Đồng Xoài đã hoàn thành, kết thúc đợt 2 của chiến dịch. Đợt 3: đêm 15-7-1965, Trung đoàn 2 tập kích một tiểu đoàn hỗn hợp của
Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 ngụy, hành quân từ Bến Cát lên, dừng chân tại Bầu Bàng; ta tiêu diệt tại chỗ 400 quân địch. Trong lúc địch đang loay hoay đối phó ở hướng đường 13 thì ngày 20-7-1965, Trung đoàn 3 tập kích Trường huấn luyện biệt kích Bù Đốp bắt nhiều tù binh và thu nhiều vũ khí.
Ngày 22-7-1965, nhận thấy quân địch đã rút vào cố thủ, khả năng chi viện rất ít nên Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch để củng cố lực lượng của ta. Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài kéo dài 64 ngày đêm; các lực lượng vũ trang tham gia chiến dịch cùng với quân và dân Bình Phước đã tiêu diệt4.500 tên địch, trong đó có 73 cố vấn Mỹ, bắn rơi 31 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Đồng thời, bộ đội địa phương và du kích hoạt động rộng khắp, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân phá ấp chiến lược: ở Bình Long 58 trong tổng 75 ấp chiến lược bị ta phá banh, phá rã; ở Phước Long, ta phá được 21 ấp chiến lược, dinh điền và 6 khu tập trung người dân tộc, đất rộng lớn. Giải phóng được 56.000 trong tổng 67.000 dân trên một vùng đất rộng lớn.
Chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài, trọng điểm là chiến thắng Đồng Xoài là một chiến dịch có quy mô lớn, thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt. Chiến thắng Đồng Xoài là bước ngoặt quan trọng làm thay đổi cục diện chiến trường Nam bộ; là một đòn tấn công quyết định làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.
Thắng lợi của Chiến dịch Đồng Xoài đã đánh dấu sự phát triển của chiến tranh nhân dân địa phương, sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam bộ cả về xây dựng tác chiến và đảm bảo hậu cần, kỹ thuật. Sự kiện Đồng Xoài rực lửa chiến công năm 1965 thể hiện sự lớn mạnh của quân giải phóng miền Nam, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ".
Đồng chí Lê Trọng Tấn (Tư lệnh kiêm Chính ủy trong Chiến dịch Đồng Xoài) nghiên cứu tình hình chiến trường miền Nam, năm 1965. Ảnh tư liệu
Hình ảnh thất vọng của Cố vấn Mỹ tại trận Đồng Xoài ngày 12-6-1965. Ảnh tư liệu
* Chiến thắng Vạn Tường
Nhận được tin báo của lực lượng trinh sát của Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ, đóng quân ở vùng căn cứ Chu Lai, phát hiện có đơn vị chủ lực của ta (Trung đoàn 1 mang tên Ba Gia, đơn vị chủ lực của Liên khu 5) đóng quân tại Vạn Tường (xã Bình Thiện, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), Oétmolen (Westmoreland) liền ra lệnh cho lính thuỷ đánh bộ mở cuộc hành quân mang tên Ánh sáng sao (Starlite) đánh vào Vạn Tường, nhằm tiêu diệt Trung đoàn 1 Quân giải phóng, gây uy thế cho quân Mỹ.
Thấy rằng trong trận này quân Mỹ hoàn toàn chủ động, lựa chọn chiến trường tác chiến hợp với sở trường để xuất quân. Tại đây, Mỹ có điều kiện thuận lợi sử dụng xe tăng, pháo binh, hải quân, không quân của chiến tranh hiện đại. Theo đó, chúng đưa vào trận đánh Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 cùng lực lượng bổ sung lên đến khoảng 9.000 quân, gồm ban chỉ huy Quân đoàn 7 thuộc Sư đoàn lính thủy đánh bộ, 4 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, 2 tiểu đoàn bộ binh Việt Nam Cộng hòa, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe lội nước, một số lượng pháo binh và công binh… ngoài ra chúng còn huy động 6 tàu đổ bộ, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay chiến đấu vào cuộc càn quét.
Đêm 17/8/1965, hơn chục tàu chiến thuộc Hạm đội 7 - Mỹ đậu thành vòng cung ngoài khơi liên tục bắn đại bác vào thôn Vạn Tường và các điểm cao. Sáng ngày 18/8/1965, một lực lượng lớn quân Mỹ gồm 4 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe bọc thép, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, 6 tàu đổ bộ và pháo hạm cùng hàng trăm máy bay chiến đấu, mở cuộc hành quân phối hợp hải, lục, không quân tiến vào Vạn Tường. Sau khi dùng pháo, máy bay bắn phá dọn đường, quân Mỹ liền chia thành 4 mũi tiến về Vạn Tường: một mũi theo đường bộ từ Chu Lai vào, hai mũi đổ bộ đường biển và một mũi đổ bộ đường không.
Trận đánh kéo dài đến chiều tối ngày 18/8/1965, địch bị đánh thiệt hại 4 đại đội. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ chẳng những không hợp điểm được tại thôn Vạn Tường theo ý định ban đầu, mà còn có nguy cơ bị sa lầy, bị diệt lớn. Hải quân Mỹ pháo kích dữ dội hòng làm giảm áp lực của ta và dùng máy bay lên thẳng chở lực lượng dự bị từ hạm đội đang đậu ngoài khơi đổ xuống Vạn Tường. Ta tiếp tục tiến công cho đến khi màn đêm buông xuống thì trận đánh kết thúc. Quân Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 900 tên, 22 xe tăng, xe bọc thép, 13 máy bay bị bắn rơi. Đêm 18 rạng 19 lực lượng ta bí mật rút khỏi Vạn Tường an toàn.
Một binh sĩ Mỹ bị thương trong cuộc chiến. Ảnh tư liệu
Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, là mốc son chói lọi phản ánh khí thế cách mạng tiến công, sự mưu trí, kiên cường, dũng cảm, đoàn kết chiến đấu của quân và dân Quảng Ngãi với bộ đội chủ lực Quân khu 5. Nếu như chiến thắng Ấp Bắc mở đầu cho “cao trào diệt ngụy”, thì chiến thắng Vạn Tường lịch sử mở đầu cho “cao trào diệt Mỹ”. Chiến thắng Vạn Tường khẳng định quân và dân ta có khả năng đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lăng, dù chúng có thể đông quân, hùng hậu về vũ khí trang bị và khả năng cơ động.
Chiến thắng Vạn Tường mùa hè năm 1965. Ảnh Tư liệu
*Đánh bại cuộc hành quân Junction City của quân Mỹ
Tháng 1/1967, với lực lượng 3 lữ đoàn Mỹ cùng 3 chiến đoàn Ngụy và cuộc hành quân quy mô lớn nhất, dài ngày nhất mang tên Gian-xơn Xi-ti (Junction City), tập trung lực lượng đánh vào vùng Bắc Tây Ninh, sát biên giới Việt Nam- Campuchia. Lực lượng bao gồm: 31 tiểu đoàn bộ binh thuộc các Sư đoàn 1, 25, 4, 9 và các Lữ đoàn 196, 173 của Mỹ, 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân Quân đội Sài Gòn; 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh (tổng số khoảng 45.000 quân) với sự yểm trợ của 17 phi đoàn không quân các loại...
Chiến dịch diễn ra bắt đầu từ ngày 22/2, kết thúc vào ngày 15/4/1967 và chia làm 2 đợt. Kết quả, ta đã bẻ gãy cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti của Mỹ. Toàn bộ các mục tiêu mà quân địch đề ra đều không thực hiện được. Ngược lại, ta loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 quân địch (chủ yếu là quân Mỹ), phá huỷ, phá hỏng 992 xe (có 775 xe tăng và xe thiết giáp), 112 khẩu pháo từ 105mm trở lên, bắn rơi và bắn hỏng 160 máy bay (có 144 trực thăng), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ. Đây là thất bại lớn nhất của Mỹ tính đến thời điểm đó.
Sơ đồ Chiến dịch đánh bại cuộc Hành quân Gianxon xiti năm 1967. Ảnh tư liệu
Ba cuộc hành quân nằm trong khuôn khổ chiến dịch này bao gồm: Cuộc hành quân Attelboro đánh phá vào khu căn cứ Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tháng 11/1966, với lực lượng huy động khoảng 3 vạn quân. Ảnh tư liệu
Trong ảnh, các binh sĩ Sư đoàn kỵ binh 1 đang cõng đồng đội bị thương sau cuộc giao tranh dữ dội với bộ đội quân giải phóng ở điểm cách biên giới Campuchia 2 dặm. Ảnh tư liệu
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhận xét: "Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti là một cuộc hành quân lớn nhất của quân Mỹ vào vùng căn cứ Bắc Tây Ninh lại là cuộc hành quân thua đau nhất, là cái mốc đánh dấu đỉnh cao sự thất bại của chúng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai trong âm mưu tìm diệt của chúng".
* Chiến dịch tiến công Đường 9-Khe Sanh
Thung lũng Khe Sanh nằm ở vùng rừng núi heo hút phía Tây Quảng Trị, được xác định là một trong những địa bàn chiến lược ở khu vực giáp ranh giới tuyến quân sự tạm thời. Năm 1966, tại khu vực Nam vĩ tuyến 17 đến Đường 9 - Khe Sanh, Mỹ đã cho xây dựng tuyến phòng thủ, lấy tên là hàng rào điện tử McNamara.
Ở vị trí “mỏ neo” khu vực ngã ba biên giới, Khe Sanh được định vị là một trong ba “mắt thần” của hàng rào điện tử McNamara, nơi Mỹ tập trung xây dựng một tập đoàn cứ điểm mạnh gồm chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và sân bay Tà Cơn, được trang bị đầy đủ các loại vũ khí hiện đại, tối tân nhất lúc bấy giờ với nhiều hệ thống công sự dày đặc có sự yểm trợ bằng máy bay B52, cùng với đội quân tinh nhuệ nhằm cắt đứt tuyến chi viện của ta trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, ngăn chặn quân ta từ Bắc vào, từ Lào sang và làm tấm bình phong che chắn cho khu vực phòng thủ của chúng ở phía Đông đường 9.
Vào thời điểm đầu năm 1968, có nhiều nguyên nhân khiến người Mỹ tin rằng quân giải phóng sẽ thực hiện trận quyết chiến chiến lược ở Khe Sanh. Đầu tiên, từ sự tương đồng về yếu tố địa hình và vai trò chiến lược giữa lòng chảo Điện Biên Phủ và Khe Sanh. Tiếp đến, Mỹ tin rằng với sự “từ bỏ” địa bàn truyền thống nông thôn của ta thì rừng núi sẽ là bàn đạp để ta đánh vào đồng bằng, đô thị và phán đoán quân giải phóng không đủ sức tấn công vào các thành phố, đô thị mà đó chỉ là “đòn nghi binh”; chiến trường chính nhất định sẽ diễn ra ở Khe Sanh.
Về phía ta, sau những thắng lợi giành được trong mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12/1967 nhận định: chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược và chiến thuật, lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào, ta đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường: “Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn”. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị chủ trương mở: “đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch…”.
Thực hiện chủ trương chiến lược trên, thể theo đề nghị của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh xuân hè 1968. Toàn bộ lực lượng trên được chỉ huy thống nhất của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, do Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.
Tham gia chiến dịch có 4 sư đoàn bộ binh (304, 320, 325, 324), các trung đoàn 27, 270, 2 tiểu đoàn BĐĐP tỉnh Quảng Trị; các trung đoàn pháo binh (45, 84, 164, 204, 675), các trung đoàn pháo phòng không (128, 282, 241), 1 tiểu đoàn và 5 đại đội đặc công, 1 tiểu đoàn xe tăng PT76 (4 đại đội), 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 tiểu đoàn hóa học, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội súng phun lửa và bộ đội địa phương các huyện Cam Lộ, Do Linh, Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị.
Lực lượng Sư đoàn Kỵ binh số 1 trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh 4/1968 . Ảnh tư liệu
Chiến dịch diễn ra 4 đợt, bắt đầu từ ngày 20/2 và kết thúc vào ngày 7/5/1967. Với quyết tâm “Biến Khe Sanh thành địa ngục trần gian của quân Mỹ”, ngày 20/1/1968, ta mở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Sau 170 ngày đêm liên tục tiến công, vây hãm, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 480 máy bay, 120 xe quân sự, 65 đại bác và súng cối cỡ lớn, 55 kho xăng và đạn, thu hàng ngàn súng các loại, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh lịch sử, huyện Hướng Hóa được giải phóng vào ngày 9/7/1968 với hơn 10.000 dân, mở thông hành lang tuyến đường vận tải chiến lược Bắc-Nam chi viện chiến trường miền Nam.
Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã chứng tỏ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong việc đấu trí, đấu lực với kẻ thù, không chỉ với Bộ chỉ huy quân sự Mỹ mà còn cả với những nhà hoạch định chiến lược sừng sỏ ở Nhà Trắng. Chiến thắng Khe Sanh là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; tiêu biểu cho trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng của quân và dân ta, đặc biệt là các lực lượng trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong suốt chiến dịch; thể hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa hậu phương với tiền tuyến; đồng thời, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Cùng với thắng lợi trên toàn miền Nam, chiến thắng Khe Sanh, giải phóng Hướng Hóa đã đánh dấu sự phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của địch. Vùng hậu cứ và địa bàn hành lang chiến lược Bắc - Nam được mở rộng, tạo đà và tạo thế để quân và dân ta giành thắng lợi quyết định trong Chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971, giải phóng vùng đồng bằng Quảng Trị năm 1972, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975.
Máy bay vận tải của Mỹ bị Quân giải phóng bắn cháy khi liều mạng đỗ xuống sân bay Tà Cơn để tiếp tế cho căn cứ Khe Sanh. Ảnh: Tư liệu TTXVN
* Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)
Sau Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (ngày 27-1-1973), so sánh tương quan cả về thế và lực giữa ta và địch nghiêng hẳn về phía ta, Bộ chính trị nhất trí hạ quyết tâm: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh đến mức phát triển cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân đội Sài Gòn, đánh đổ chính quyền Sài Gòn, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, tháng 3-1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta bắt đầu diễn ra và giành thắng lợi liên tiếp. Trước diễn biến “một ngày bằng hai mươi năm”, ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. Quyết định này một lần nữa thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh trong lãnh đạo, chỉ đạo và nghệ thuật điều hành kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng.
Từ cuối năm 1973, cùng với quá trình gấp rút xây dựng lực lượng trên chiến trường, công tác chi viện của hậu phương miền Bắc được đẩy mạnh, kịp thời đáp ứng yêu cầu về nhân lực, vật lực cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.
Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, với mục tiêu chính là giải phóng Sài Gòn.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Quân ủy Trung ương duyệt phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN
Giai đoạn 1: Từ ngày 26 đến 28 tháng 4, các lực lượng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành tấn công và đánh chiếm các mục tiêu quan trọng ở vòng ngoài Sài Gòn như Xuân Lộc, Phan Thiết, và Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời cô lập Sài Gòn.
Giai đoạn 2: Từ ngày 29 đến 30 tháng 4, quân ta tiến hành tổng tấn công vào Sài Gòn. Các mũi tiến công từ nhiều hướng đã vượt qua các tuyến phòng thủ của địch và tiến vào trung tâm thành phố.
Ngày 30 tháng 4: Quân ta tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập, tướng Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Bốn chiến sỹ Binh đoàn Hương Giang mang cờ tiến thẳng vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 (người cầm cờ là Đại đội trưởng tăng T54 Bùi Quang Thận). Ảnh tài liệu
Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa lịch sử to lớn, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nó thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến thắng quân sự mà còn là một chiến thắng về chính trị, ngoại giao, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Chiến thắng trên mặt trận chính trị:
Phong trào Đồng Khởi (1960):
Tiêu biểu là cuộc nổi dậy ở Bác Ái (2/1959), khởi nghĩa ở Trà Bồng (8/1959), trận đánh ở Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung (9/1959), trận Xẻo Rô (10/1959), trận Tua Hai (1/1960)… Đặc biệt là cuộc đấu tranh đồng loạt và mạnh mẽ trở thành cao trào Đồng khởi ở Bến Tre (1/1960). Từ Bến Tre, phong trào như “triều dâng thác lũ”, nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, miền Đông Nam bộ, miền Trung và Tây Nguyên, lôi cuốn hàng vạn, hàng triệu người, không phân biệt già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái cùng chung sức, đồng lòng đứng lên khởi nghĩa, tạo nên một phong trào cách mạng mạnh mẽ, rộng khắp, hết đợt này đến đợt khác, lần lượt san phẳng đồn bốt địch, xóa bỏ ách kìm kẹp của chính quyền Mỹ - Diệm, giành quyền làm chủ quê hương. Đến cuối năm 1960, nhân dân miền Nam đã làm tan rã trên 2/3 chính quyền địch ở nông thôn, thành lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã trên tổng số 2.627 xã ở miền Nam.
Nhân dân miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ thành lập căn cứ và
chống đạo luật phản động 10/59 (năm 1959). Ảnh tư liệu
Phong trào này đã làm lung lay chính quyền Ngô Đình Diệm, tạo tiền đề cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Thắng lợi của phong trào Đồng khởi “đánh dấu một bước nhảy vọt quan trọng chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công, phát triển cao trào cách mạng ra khắp miền với sự kết hợp cả hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự”.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968): Cuộc tiến công này đã gây tiếng vang lớn trên thế giới, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.
Đợt tấn công đầu tiên bắt đầu vào ngày 30/1/1968 và kéo dài đến ngày 25/2/1968. Trong đợt tấn công này, quân đội và nhân dân miền Nam đã đồng loạt nổi dậy và tấn công hầu hết các tỉnh, đô thị, quận lị. Tại Sài Gòn, quân ta tấn công các vị trí đầu não của địch như Dinh Độc lập, Toà đại sứ Mỹ, Bộ tổng tham mưu Ngụy, Tổng nha cảnh sát Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh… Quân ta đã loại khỏi vòng chiến 147.000 địch (trong đó có 43.000 quân Mỹ), phá hủy một lượng lớn vật chất và các phương tiện chiến tranh của địch. Đồng thời, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình đã được thành lập. Đợt tấn công này đã gây ra sự hoang mang và kinh ngạc cho quân và chính quyền Mỹ cũng như quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Nụ cười của lính trẻ, trên tay ôm những khẩu súng là chiến lợi phẩm sau một trận đánh vào thời kỳ năm 1968. Ảnh tư liệu
Sau thành công của đợt tấn công đầu tiên, quân đội và nhân dân miền Nam tiếp tục triển khai đợt tấn công thứ hai vào tháng 5 và 6, và đợt tấn công thứ ba vào tháng 8 và 9.
Quân giải phóng chiếm Nha hành chính của Quân đội Sài Gòn, năm 1968. Ảnh tư liệu
Đây là những đợt tấn công bất ngờ làm cho quân và chính quyền Mỹ choáng váng. Tuy nhiên, do lực lượng của địch còn mạnh, nên địch đã nhanh chóng tổ chức phản công giành lại những mục tiêu bị quân đội và nhân dân miền Nam chiếm và đồng thời cũng đã làm cho quân đội và nhân dân miền Nam bị tổn thất khá nặng nề và gặp không ít khó khăn trong quá trình tiếp tục chiến đấu.
Quân Giải phóng tấn công sân bay Tân Sơn Nhất trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu
Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ta đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta là lần đầu tiên trong lịch sử Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, quân Mỹ bị đánh bại bởi một dân tộc nhỏ ở cách xa nước Mỹ. Sự kiện một lần nữa làm lung lay ý chí xâm lược của Đế quốc Mỹ, mở ra cuộc đối thoại giữa miền Nam và miền Bắc, qua đó đã đưa đến cuộc hội nghị Pa- ri để đàm phán về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Chiến thắng trên mặt trận ngoại giao:
Hiệp định Paris (1973):
Ngày 27/1/1973, hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (hay gọi tắt là Hiệp định Paris về Việt Nam) được ký kết, kết thúc cuộc đàm phán dài nhất trong thế kỷ XX với 202 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng Việt Nam - Hoa Kỳ. Hiệp định này là là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. Đây là thắng lợi to lớn của ta về mặt ngoại giao, buộc Mỹ phải rút quân về nước.
Lễ ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam,
ngày 27.1.1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Paris (Pháp). Ảnh tư liệu
Bên cạnh đó, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, các tổ chức quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới, tạo ra sức mạnh tổng hợp mà ở đó đã được kết hợp chặt chẽ và phát huy tối đa sức mạnh dân tộc và thời đại góp phần không nhỏ vào chiến thắng trên mặt trận ngoại giao trong cuộc chiến tranh chống Đế Quốc Mỹ xâm lược.
Chiến thắng trên mặt trận kinh tế, văn hóa, xã hội:
Bên cạnh những chiến thắng trên mặt trận quân sự, chính trị thì trên mặt trận kinh tế, văn hoá xã hội, mặc dù bị chiến tranh tàn phá, nhưng miền Bắc vẫn duy trì và phát triển kinh tế, đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác cho tiền tuyến.
Thực hiện chiến dịch dệt khẩn cấp 1 triệu mét vải để may cờ phục vụ
giải phóng miền Nam (năm 1975). Ảnh tư liệu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền giáo dục miền Bắc đã được xây dựng và phát triển khá hoàn thiện, góp phần tạo ra thế hệ thanh niên, trí thức Việt sống có lý tưởng, có hoài bão thực sự là những hệ giá trị, xứng đáng được đánh giá là “bông hoa đẹp” của CNXH. Đó là một nền giáo dục tuy gặp rất nhiều khó khăn trong chiến tranh nhưng đã đào tạo được những con người có lý tưởng sống, có bản lĩnh và tràn đầy nhiệt huyết của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bên cạnh sự phát triển của văn hoá giáo dục, mặc dù bị chiến tranh tàn phá, nhưng xã hội miền Bắc vẫn ổn định, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Một lớp học ngoài trời ở miền Bắc năm 1966. Ảnh tư liệu
Đánh giá về công cuộc xây dựng miền Bắc để đánh thắng đế quốc Mỹ ở miền Nam, sau này Đại hội Đảng lần thứ IV nhận định: “Sau 20 năm cải tạo và xây dựng miền Bắc đã bước đầu kiến lập được một hình thái kinh tế-xã hội xã hội chủ nghĩa với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cơ sở vật chất-kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội, với một nhà nước chuyên chính vô sản được củng cố, cùng với hệ tư tưởng và nền văn hoá xã hội chủ nghĩa được đặt trên những nền móng vững chắc, đem lại những thay đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực”.
Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng những chủ trương chỉ đạo, chiến lược tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến có ý nghĩa hết sức sâu sắc, quý báu, vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay và những bài học đó là:
Đầu tiên, bài học sớm nhận rõ kẻ thù, đánh giá đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, có chủ trương phù hợp với từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể, đánh bại từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp, Hiệp định Giơ-ne-vơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954). Do có những nhận định và đánh giá đúng về kẻ thù nên trong thời kỳ đầu, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình cụ thể. Đến đầu năm 1959, tình thế cách mạng đã có những thay đổi lớn, có lợi cho ta, vì vậy, tại Hội nghị Trung ương 15 khóa II (tháng 01-1959), Đảng ta đã đề ra phương pháp: “con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Đảng ta còn nhận định: “Đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh sẽ chuyển sang một cục diện mới: đó là chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 chính là cơ sở để phong trào “Đồng khởi” nổ ra mạnh mẽ và giành thắng lợi, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công và đánh bại chiến lược “Chiến tranh đơn phương” của Mỹ.
Với sự nhạy bén trong chiến lược, nắm bắt và đánh giá đúng tình hình, tương quan lực lượng, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh và đề ra kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, giành thắng lợi hoàn toàn trong thời gian chưa đầy hai tháng. Việc giành toàn thắng là do Đảng sớm xác định thời cơ chiến lược, ngoài ra còn có sự chuẩn bị về mọi mặt, đặc biệt là tiến hành xây dựng các binh đoàn cơ động chủ lực mạnh, việc phát triển thế trận trên các vùng chiến lược nhằm kết hợp tác chiến, các đòn tiến công quyết định của bộ đội chủ lực và lực lượng nổi dậy của quần chúng nhân dân ở khắp các địa phương trên toàn miền Nam Việt Nam. Đây được xem là sự sáng tạo, linh hoạt và tài tình của Đảng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến.
Thứ hai, Bài học về giải quyết tốt mối quan hệ và đề ra đường lối chiến lược, nhiệm vụ cách mạng của cả nước, tạo ra sức mạnh to lớn để đánh thắng kẻ thù
Một trong những đặc điểm lớn nhất và khó khăn lớn nhất là khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, xuất hiện mâu thuẫn về chiến lược, sách lược và phương pháp chống chủ nghĩa đế quốc giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những biến động hết sức phức tạp và nhạy cảm đó, vấn đề đặt ra cho Đảng ta là phải có đường lối cụ thể, phù hợp với đặc điểm của mỗi miền, của chung cả nước và phù hợp với tình hình thế giới và xu thế chung của thời đại. Sau khi nghiên cứu, khảo nghiệm và tìm tòi, Đảng đã đề ra đường lối chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Dù thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau, nhưng giữa cách mạng hai miền có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện một mục tiêu chung của cách mạng cả nước là hòa bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.
Tiếp theo, là bài học về giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời thực hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo, tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, vừa có thuận lợi nhưng cũng nhiều khó khăn. Đối phương của chúng ta có sức mạnh vượt trội cả về kinh tế và quân sự, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, chia rẽ phe xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ trở thành tâm điểm của cả thế giới và trở thành cuộc đọ sức điển hình, quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng. Dù độc lập tự chủ trong quá trình hoạch định đường lối, nhưng để đánh bại được đế quốc hùng mạnh thì cần phải kết hợp sức mạnh của cả dân tộc và sức mạnh thời đại. Để thực hiện thành công vấn đề này, một mặt, phải phát huy tiềm lực của chính mình, mặt khác, phải có chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước trên thế giới, trong đó có sự liên minh ba nước Đông Dương, đặc biệt là sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh sự đoàn kết quốc tế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn coi trọng việc đoàn kết toàn dân tộc, xem đó như là ý nghĩa sống còn để đi đến thắng lợi của cách mạng. Đồng thời, Đảng cũng tiến hành xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ, đứng vững trước mọi thử thách của cuộc chiến tranh. Vì vậy, Đảng đã tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, tận dụng mọi nhân tố tích cực có thể tận dụng được, hoan nghênh mọi sáng kiến vì hòa bình. Ngoài ra, luôn kiên quyết một cách có nguyên tắc và khôn khéo, mềm dẻo, kiên trì thuyết phục nhằm hạn chế những nhân tố tiêu cực trong quan hệ quốc tế.
Có thể thấy, với việc đánh giá đúng kẻ thù, nhận định đúng về tình hình trong nước và quốc tế, có đường lối đối ngoại mềm dẻo, phù hợp, Đảng ta đã đề ra đường lối sáng tạo và tài tình, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nên đã giành được chiến công chói lọi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi vĩ đại của dân tộc là cơ sở phát huy cao độ tiềm lực của cả nước, thực hiện chiến lược đoàn kết toàn dân tộc, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua thử thách, từng bước thoát khỏi khủng hoảng, phá thế bao vây, cấm vận về kinh tế, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Đồng thời, thực hiện thành công đường lối đổi mới, đưa đất nước phát triển toàn diện và mạnh mẽ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ảnh internet
Từ những thắng lợi tiêu biểu trên và những bài học đã được lịch sử khẳng định, là những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, mãi mãi cổ vũ các thế hệ người Việt Nam quyết tâm gìn giữ nền độc lập thống nhất - thành quả mà các thế hệ cha anh đã đổ biết bao xương máu mới giành được, ra sức phấn đấu, nêu cao tinh thần yêu nước, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng; lao động, học tập và công tác có chất lượng, hiệu quả và khoa học để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và vững bước trên con đường xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.